vanban.org

Bản án 22/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 10/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn A phạm tội: Vận chuyển hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 08 tháng 01 năm 2019. Vật chứng: Trả lại cho bị cáo Ngô Văn A 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL A13, màu xám, đã qua sử dụng IMEL: 359545080769665; IMEL2: 359545080769673 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn B - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn A phạm tội: Vận chuyển hàng cấm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHI LĂNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2019/HS-ST
Ngày 10 - 4 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Hoàng Văn Na

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Xuân Cương

Ông Hoàng Ngọc Bằng

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hoa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 18/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Ngô Văn A, sinh ngày 26 tháng 8 năm 1989, tại tỉnh Hưng Yên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn K (tức Ngô Nam M) và con bà: Bùi Thị G; vợ: Lý Thị Y và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chi Lăng từ ngày 08 tháng 01 năm 2019 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018, tại km 51+800 quốc lô ô 1A thuộc địa phận thôn P, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện Chi Lăng phối hợp với phòng PC 67 Công an tỉnh Lạng Sơn tiến hành dừng xe mô tô biển kiểm soát 35N7 - 5676 do Ngô Văn A điều khiển theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội, kiểm tra thu giữ: 02 bao tải dứa màu trắng bên trong chứa 10 hộp kích thước 15,5cm x 15,5cm x 16cm, mỗi hộp có 36 vật hình trụ vỏ giấy màu đỏ được liên kết với nhau thành khối, trọng lượng 14 kg; 41 khối hình chữ nhật kích thước 16 x 06cm, mỗi khối có nhiều vật hình trụ vỏ giấy màu đỏ, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi được liên kết với nhàu thành tràng, trọng lượng 3,6 kg; 14 khối hình chữ nhật kích thước 24cm x 06cm, mỗi khối có nhiều vật hình trụ vỏ giấy màu đỏ, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi được liên kết với nhàu thành tràng, trọng lượng 1,2 kg; 01 khối hình chữ nhật kích thước 20cm x 08cm, bên trong có 20 vật hình trụ vỏ giấy màu đỏ, đầu mỗi dây có gắn dây ngòi, trên thân có gắn một mảnh giấy hình cánh bướm, trọng lượng 0,2 kg; tổng trọng lượng 19 kg; 01 xe mô tô nhãn hiệu BACKHAND, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 35N7-5676; 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL A13, màu xám.

Tại bản Kết luận giám định số 175/C54-P2 ngày 19 tháng 01 năm 2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: Mẫu vật thu giữ của Ngô Văn A gửi giám định gồm: 01 khối hộp và các vật hình trụ vỏ giấy màu đỏ, một đầu mỗi vật có gắn dây ngòi được liên kết với nhau thành hai tràng (có kích thước khác nhau) đều có chứa thuốc pháo, khi đốt có gây tiếng nổ; 05 vật hình trụ vỏ giấy màu đỏ, một đầu mỗi vật có gắn dây ngòi, trên thân có gắn một mảnh giấy hình cánh bướm không chứa thuốc pháo, khi đốt không gây tiếng nổ.

Ngày 05 tháng 01 năm 2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng đã tiến hành tiêu hủy vật chứng gồm: Pháo nổ còn lại sau giám định; 02 bao tải dứa màu trắng.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Ngô Văn A đã bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 21 tháng 3 năm 2018 Công an huyện Chi Lăng đã ra quyết định truy nã đối với Ngô Văn A. Ngày 08 tháng 01 năm 2019 Ngô Văn A đến Công an phường Q, quận Z, thành phố Hà Nội đầu thú.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn A đã khai nhận rõ về hành vi vận chuyển thuê 18,8 kg pháo nổ cho một người Trung Quốc từ xóm N, trấn T, huyện V, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc đến cây xăng D, huyện H, tỉnh Hưng Yên để nhận tiền công vận chuyển là 1.000.000 đồng, bị cáo thực hiện hành vi này một mình, không có người giúp sức. Đối với vật chứng khác bị cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 23/CT-VKSCL ngày 18 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Ngô Văn A về tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn A phạm tội Vận chuyển hàng cấm. Về hình phạt: Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 191; các Điều 38, 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Văn A từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động. Truy thu của bị cáo số tiền 1.000.000 đồng.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai rõ toàn bộ hành vi phạm tội như tại cơ quan Điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc ngày 01 tháng 01 năm 2018 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, cụ thể: Ngày 01 tháng 01 năm 2018, Ngô Văn A đã có hành vi vận chuyển trái phép 18,8 kg pháo nổ từ Trung Quốc về cây xăng D, huyện H, tỉnh Hưng Yên, với mục đích nhận tiền công vận chuyển là 1.000.000 đồng. Khi đang vận chuyển pháo nổ đến địa phận thôn P, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị bắt giữ. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Văn A phạm tội Vận chuyển hàng cấm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo Ngô Văn A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về kinh tế. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán và đốt các loại pháo nổ. Bị cáo A là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển pháo nổ là sai nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

[4] Để cá thể hoá hình phạt, ngoài việc xem xét tính chất, hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, vì chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã , đến ngày 08 tháng 01 năm 2019 bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo có bố đẻ là ông Ngô Văn K được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Ngô Văn A ra khỏi đồi sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Về hình phạt bổ sung, tại biên bản xác minh ngày 15 tháng 3 năm 2018 Ngô Văn A không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì không có khả năng thi hành.

[6] Cáo trạng số 23/CT-VKSCL ngày 18 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Ngô Văn A theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Mức hình phạt của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị đối với bị cáo Ngô Văn A là hợp lý và cần được chấp nhận.

[7] Đối với người đàn ông Trung Quốc thuê A vận chuyển pháo nổ từ Trung Quốc về cây xăng D, huyện H, tỉnh Hưng Yên do không biết thông tin cụ thể nên Công an huyện Chi Lăng không thể điều tra xác minh.

[8] Về xử lý vật chứng: Công an Chi Lăng đã tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ là vật chứng còn lại sau giám định cùng 02 bao tải dứa màu trắng. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu BACKHAND, biển kiểm soát 35N7- 5676, ngày 01 tháng 01 năm 2018 Ngô Văn A nhận của người đàn ông Trung Quốc để vận chuyển pháo nổ, hiện nay chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng tách ra tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý sau là có căn cứ. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL A13, màu xám của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

[9] Các biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo đã nhận vận chuyển trái phép pháo nổ để nộp ngân sách nhà nước là có cơ sở.

[10] Về án phí: Bị cáo Ngô Văn A phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 46, 47, 50 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn A phạm tội: Vận chuyển hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 08 tháng 01 năm 2019.

Vật chứng: Trả lại cho bị cáo Ngô Văn A 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL A13, màu xám, đã qua sử dụng IMEL: 359545080769665; IMEL2: 359545080769673 (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Chi Lăng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chi Lăng ngày 20 tháng 3 năm 2019).

Truy thu đối với bị cáo Ngô Văn A 1.000.000đ (một triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Ngô Văn A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ