- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T Điều 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2019/HS-PT Ngày: 24/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các thẩm phán: Ông Mai Tấn Hoàng và ông Nguyễn Việt Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Nin- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiển- Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 24 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 16/2019/TLPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáoNguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2019/HS-ST ngày 10 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn Phú Lộc, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độc văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1955 và bà Lê Thị Ánh T, sinh năm 1959; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 27/7/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 19/3/2012; Ngày 26/10/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 14/7/2013; Ngày 18/9/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 09/02/2017; bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 03/6/2018 Tuyên mở cửa cổng vào bên trong nhà anh Phan Văn K ở thôn Tân An, xã An Hòa, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, lấy trộm một cái giỏ nhựa, viền giỏ màu hồng, trị giá 70.000 đồng, để đựng con gà trống nòi T khai mua trước đó (Không xác định được người bán), thì bị phát hiện, truy hô. T quăng cái giỏ bên trong có đựng con gà trống nòi xuống sân nhà ông K bỏ chạy, nhưng bị nhiều người giữ lại, báo Công an đến giải quyết.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2019/HSST ngày 10/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An đã tuyên Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt Nguyễn Văn T - 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/01/2019, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo - Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 03/6/2018 bị cáo Nguyễn Văn T đến thôn Tân An, xã An Hòa, huyện Tuy An, vào nhà anh Phan Văn K lén lút chiếm đoạt 01 cái giỏ nhựa, trị giá 70.000 đồng. Tuy tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo là người đã 03 lần bị kết án đều về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội.
Khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án; xem xét nhân thân và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, để phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù là phù hợp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo.
Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo - Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T - 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND huyện Tuy An; - VKSND tỉnh Phú Yên; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy An; - PV 27; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên; - Lưu án văn; lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Võ Nguyên Tùng |