vanban.org

Bản án 22/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Ngọc L với bị đơn anh Nguyễn Hữu S.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Ngọc L đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Hữu S. Về con chung: Buộc anh Nguyễn Hữu S giao con chung Nguyễn Hữu D, sinh ngày 08/10/2009 cho chị Hà Ngọc L trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hà Ngọc L không yêu cầu anh Nguyễn Hữu S cấp dƣỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Ngọc L với bị đơn anh Nguyễn Hữu S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 22/2019/HNGĐ-ST
Ngày 18-4-2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Chiến Thắng;

2. Bà Phạm Tú Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Ngân - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1168/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2019, quyết định hoãn phiên tòa số 16/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2019; thông báo thay đổi thời gian xét xử số 03/TB-TA ngày 29/3/2019, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Ngọc L, sinh năm 1988; thƣờng trú: 40/3 khu phố Đ, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu S, sinh năm 1989; thƣờng trú: 40/3 khu phố Đ, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2018 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Hà Ngọc L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Ngọc L và anh Nguyễn Hữu S tự nguyện tìm hiểu nhau khoảng 01 năm thì tiến đến hôn nhân năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D (nay là phƣờng D, thị xã D), tỉnh Bình Dƣơng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 112/2009, quyển số 01, cấp ngày 27/4/2009. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống cùng gia đình chồng tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, không hiểu nhau, luôn bất hòa, anh S không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm tới vợ con, không phụ giúp chị L về mặt kinh tế và thƣờng xuyên bỏ nhà đi khoảng 1 tuần mới về. Vì con còn nhỏ nên chị L cố chịu đựng và tạo điều kiện cho anh S sửa đổi nhƣng không có kết quả. Chị L xác định không còn tình cảm với anh S nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh S.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung Nguyễn Hữu D, sinh ngày 08/10/2009. Hiện nay, con chung đang sống cùng với anh chị. Sau khi ly hôn, chị Hà Ngọc L yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung Nguyễn Hữu D và không yêu cầu anh Sơn cấp dƣỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Hà Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Hữu S: Tòa án đã đƣợc Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 22/02/2019; tham gia phiên tòa vào các ngày 27/3/2019 và ngày 18/4/2019 nhƣng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu của chị L và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.

- Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị L và anh S do Tòa án tiến hành ngày 18/01/2019, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau: Trƣớc khi nộp đơn khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án, chị L không yêu cầu chính quyền địa phƣơng tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thực tế mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, vấn đề chăm sóc, nuôi dạy con chung nhƣ thế nào chính quyền địa phƣơng không nắm rõ vì không thấy đại diện khu phố, nhân dân phản ánh hay cung cấp thông tin gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thƣ ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Hà Ngọc L làm đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Hữu S đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 27/3/2019 và ngày 18/4/2019 nhƣng anh Nguyễn Hữu S vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Ngọc L và anh Nguyễn Hữu S tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D (nay là phƣờng D, thị xã D), tỉnh Bình Dƣơng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 112/2009, quyển số 01, cấp ngày 27/4/2009 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Nguyên đơn chị Hà Ngọc L xác định quá trình chung sống với bị đơn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc 01 năm thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, do bị đơn không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con và thƣờng xuyên bỏ nhà đi khoảng 1 tuần mới về. Vợ chồng không tìm đƣợc tiếng nói chung, làm cho cuộc sống gia đình ngột ngạt nên nguyên đơn không còn tình cảm yêu thƣơng bị đơn. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập anh S đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh S không có mặt. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng đƣợc.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Chị Hà Ngọc L và anh Nguyễn Hữu S có một con chung Nguyễn Hữu D, sinh ngày 08/10/2009. Hiện con chung đang ở cùng với anh chị. Chị Hà Ngọc L yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng con chung cháu Nguyễn Hữu D. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi dƣỡng cần phải xem xét về mọi mặt của con chƣa thành niên. Quá trình tố tụng tại Tòa án, anh Nguyễn Hữu S vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn đƣợc nuôi con. Trong thời gian trƣớc đây và hiện nay cháu Nguyễn Hữu D đƣợc chị Liên nuôi dƣỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Tại bản tự khai ngày 18/01/2019 cháu Nguyễn Hữu D có nguyện vọng mong muốn đƣợc sống chung với mẹ nên việc giao cháu D cho chị L trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc sau khi ly hôn là phù hợp quy định tại Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Về vấn đề cấp dƣỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dƣỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Tòa án ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng là có cơ sở.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 15, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Ngọc L với bị đơn anh Nguyễn Hữu S.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Ngọc L đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Hữu S.

- Về con chung: Buộc anh Nguyễn Hữu S giao con chung Nguyễn Hữu D, sinh ngày 08/10/2009 cho chị Hà Ngọc L trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hà Ngọc L không yêu cầu anh Nguyễn Hữu S cấp dƣỡng nuôi con chung.

Sau ly hôn, chị Hà Ngọc L và anh Nguyễn Hữu S đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Hà Ngọc L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hà Ngọc L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn đƣợc khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0020448 ngày 29/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ