vanban.org

Bản án 22/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________
Bản án số:22/2019/HNGĐ-ST
Ngày 18-6-2019
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN- TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Kim Dung;

2- Ông Hoàng Văn Công.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2019/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 4 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXX-ST ngày 17 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Thị N 22 tuổi

Địa chỉ: Thôn T- xã L- huyện Lục Yên- Yên Bái, có mặt.

Bị đơn: Anh Đỗ Trọng V 27 tuổi

Địa chỉ: Thôn T- xã L- huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái, đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 16-4-2019 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Đào Thị N trình bày: Chị và anh Đỗ Trọng V kết hôn tháng 12 năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn lại tại UBND xã L- huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V mải chơi, không tu chí làm ăn; có quan hệ tình cảm với người khác, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau thậm chí anh V còn đánh chị. Gia đình hai bên khuyên nhủ nhưng anh V không thay đổi, chị đã đưa con về bên ngoại; hai người sống ly thân từ tháng 4 năm 2019. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị giải quyết cho ly hôn. Về con chung: Chị và anh V có một cháu là Đỗ Tường L sinh ngày 13-10-2015 hiện đang ở với mẹ; khi ly hôn chị sẽ nuôi cháu và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung chị không yêu cầu giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái đã ra văn bản thông báo và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Đỗ Trọng V vắng mặt nên Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục pháp luật quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tình cảm: Chị Đào Thị N và anh Đỗ Trọng V kết hôn năm 2015, việc kết hôn này tuân thủ đúng những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại điều 19 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Kết quả xác minh tại địa phương cơ bản phù hợp với lời khai của nguyên đơn cho thấy do nhiều nguyên nhân nên trong những năm qua vợ chồng chị N- anh V không hạnh phúc, trong đó nguyên nhân chính là do quan điểm, tính cách, lối sống không hợp nhau; thiếu sự tin tưởng lẫn nhau dẫn đến nhiều lần xảy ra cải, chửi nhau. Mặc dù nhiều lần được triệu tập đến phiên hòa giải nhưng anh V không có mặt thể hiện sự bất cần, không còn thiết tha trong việc vun đắp hạnh phúc gia đình nữa. Qúa trình giải quyết vụ án chị N khẳng đình tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết đề nghị giải quyết cho ly hôn. Qua đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị N- anh V đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị N có căn cứ chấp nhận.

[2] Về con chung: Chị N và anh V có một cháu là Đỗ Tường L sinh ngày 13-10-2015 hiện đang ở với mẹ. Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị N đề nghị được nuôi cháu L và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con. Xét hoàn cảnh thực tế trong suốt thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu L thường xuyên ở với mẹ; cháu còn nhỏ lại là con gái nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, vì vậy giao cháu cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do chị N không yêu cầu nên anh V không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung.

[3] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.

[4] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến: Qúa trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 56; các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử cho chị N được ly hôn với anh V, giao cháu L cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng…

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1- Về tình cảm: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Đào Thị N được ly hôn với anh Đỗ Trọng V.

2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu Đỗ Tường L cho chị Đào Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đỗ Trọng V không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

3- Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Đào Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị N đã nộp đủ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên-tỉnh Yên bái theo biên lai số AA/2017/0004386 ngày 16-4-2019.

4- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ