vanban.org

Bản án 22/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H ly hôn anh Phan Văn T.

Về con chung: Giao con chung Phan Đăng Kh, sinh ngày 12/2/2017cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung Phan Bảo Ng, sinh ngày 15/7/2015 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho nha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn sơ thẩm số 20/2019/HNGĐ-ST giữa chị Trần Thị Thu H và anh Phan Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H ly hôn anh Phan Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29/5/2019
Về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Lộc và Hà Anh Thơ.

- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Hằng– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn

Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Hồng Bá - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự, thụ lý số: 66/2019/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2019 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1993. Nơi cư trú: xóm 5, xã DX, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt).

- Bị đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1989. Nơi cư trú: xóm 5, xã DX, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án và trong quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Thu H trình bày: Chị và anh Phan Văn T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 05/02/2015 tại UBND xã DX, huyện D, tỉnh Nghệ An. Việc chị kết hôn với anh T là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới vợ chồng sống tại DX. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau bình thường nhưng được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên cãi vả, xúc phạm, đánh đập lẫn nhau. Vợ chồng sống ly thân từ mồng 4 tết năm 2019 cho đến nay cắt đứt mọi quan hệ. Nay chị xét thấy mâu thuẫn trầm trọng không khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Văn T.

- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phan Bảo Ng, sinh ngày 15/7/2015 và Phan Đăng Kh, sinh ngày 12/2/2017. Nếu ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Phan Bảo Ng. Giao cháu Phan Đăng Kh cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.

- Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn anh Phan Văn T trình bày:

- Về tình cảm: Anh và chị Trần Thị Thu H đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 05/02/2015 tại UBND xã DX, huyện D, tỉnh Nghệ An. Việc anh kết hôn với chị H là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống với nhau bình thường. Theo anh thì vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ có những mâu thuẫn nhỏ không đáng kể. Mồng 4 tết năm 2019 vợ chồng có xích mích nên có xảy ra xô xát nên chị H đã bỏ về bên ngoại. Vợ chồng sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Nay chị Hà làm đơn ly hôn, anh không đồng ý ly hôn, anh mong Tòa hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ nuôi dưỡng con chung.

- Về nuôi con chung : Vợ chồng có 02 con chung tên Phan Bảo Ng, sinh ngày 15/7/2015 và Phan Đăng Kh, sinh ngày 12/2/2017. Nếu ly hôn anh T có nguyện vọng giao 02 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh.

- Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Tòa án mở phiên tòa đúng thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa.

Về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Toà án áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về tình cảm: giải quyết cho chị Trần Thị Thu H được ly hôn với anh Phan Văn T; về nuôi con chung: Giao con chung Phan Đăng Kh, sinh ngày 12/2/2017 cho chị Trần Thị Thu H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao con chung Phan Bảo Ng, sinh ngày 15/7/2015 cho anh Phan Văn T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai; Về tài sản: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Chị H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Bị đơn anh Phan Văn T có nơi cư trú tại xóm 5, xã DX, huyện D, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 35 và Điều 39 của BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D Nghệ An.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phan Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/4/2019 (lần 1) trực tiếp cho anh T. Nhưng tại phiên tòa ngày 08/5/2019 anh T vắng mặt không có lý do, Tòa án đã ban hành quyết định hoãn phiên tòa số 14/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2019. Ngày 17/5/2019 Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 15/5/2019 (lần 2) trực tiếp cho anh T nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Phan Văn T.

. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H và anh Phan Văn T kết hôn với nhau vào ngày 05/02/2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã DX, huyện D tỉnh Nghệ An (Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2015, quyển số 01/2013 ngày 05/02/2015). Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, xét cuộc hôn nhân là hợp pháp.

Sau ngày cưới vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi vả, đánh đập lẫn nhau. Mâu thuẫn trầm trọng kể từ ngày mồng 4 tết năm 2019 vợ chồng có xích mích nên có xảy ra xô xát. Chị H bỏ về bên ngoại sống, kể từ đó vợ chồng sống ly thân, cắt đứt mọi quan hệ. Tại bản tự khai và tại phiên hòa giải anh T công nhận mâu thuẫn vợ chồng như chị H trình bày, nhưng nay chị H yêu cầu ly hôn anh không nhất trí, vì mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, anh đang còn tình cảm với chị H nên anh mong muỗn được đoàn tụ để nuôi dạy con chung. Tuy nhiên kể từ ngày chị H làm đơn yêu cầu ly hôn, anh T không đưa ra được lý do gì cũng như không có các biện pháp tích cực để cải thiện cuộc sống vợ chồng. Mặc dù Tòa án đã nhiều lần hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng tại phiên tòa hôm nay chị H vẫn một mực kiên quyết xin được ly hôn vì chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa, chị không thể chung sống với anh T. Qua kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã DX thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, chị H đã bỏ về nhà ngoại sinh sống từ tháng 2/2019 cho đến nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị Trần Thị Thu H được ly hôn với anh Phan Văn T.

. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phan Bảo Ng, sinh ngày 15/7/2015 và Phan Đăng Kh, sinh ngày 12/2/2017.

Tại phiên tòa hôm nay chị H có nguyện vọng được nuôi một con chung vợ chồng là cháu Phan Đăng Kh, sinh ngày 12/2/2017. Giao cháu Phan Bảo Ng, sinh ngày 15/7/2015 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Vì hiện nay chị không đủ điều kiện để nuôi dưỡng 02 con chung vợ chồng.

Tại bản tự khai và phiên hòa giải anh T yêu cầu giao 02 con chung của vợ chồng cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh vì điều kiện khó khăn.

Xét việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn là nghĩa vụ của cha mẹ, chị H và anh T có thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, đảm bảo cho các con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Nên cần giao mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng một con chung là phù hợp. Xét cháu Phan Đăng Kh hiện đang còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cần giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung Phan Bảo Ng, sinh ngày 15/7/2015 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Anh T, chị H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở.

. Về tài sản: Các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình. Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H ly hôn anh Phan Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung Phan Đăng Kh, sinh ngày 12/2/2017cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung Phan Bảo Ng, sinh ngày 15/7/2015 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Chị H, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, án phí của chị H được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D theo biên lai thu tiền số 0004576 ngày 26/3/2019.

5. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thu H có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Phan Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ