vanban.org

Bản án 22/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H là vợ chồng.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đào Duy T - Sinh ngày 18/10/2015 đến đủ 18 tuổi. Giao cho anh Đào Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đào Anh T - Sinh ngày 17/7/2007 đến đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H không phải… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H ly hôn Đào Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI
_____________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2019/HNGĐ–ST.
Ngày 25/7/2019.
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Viết Bình;

2. Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết.

Thư ký phiên toà: Ông Ngô Hoàng Tùng – Thư ký, Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Ngày 25 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2019/TLST–HNGĐ, ngày 05 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST–HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai.

2. Bị đơn: Anh Đào Văn H - Sinh năm 1977.

Địa chỉ: Thôn K, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 02 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bầy: Chị và anh Đào Văn H tự nguyện về chung sống với nhau từ tháng 02/2007, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương, không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Sau khi về chung sống, chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H sống hòa thuận đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau. Khi mâu thuẫn anh Đào Văn H luôn chửi bới, đập phá đồ đạc, xúc phạm, đánh đập chị Nguyễn Thị H, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H đã được hai bên gia đình và chính quyền địa phương tham gia hòa giải nhưng mâu thuẫn vẫn không khắc phục được mà ngày càng trầm trọng hơn. Hiện chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể khắc phục được nên chị Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Văn H.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H có hai con chung là cháu Đào Anh T - Sinh ngày 17/7/2007 và cháu Đào Duy T - Sinh ngày 18/10/2015. Hiện cháu Đào Duy T đang sống với chị Nguyễn Thị H và cháu Đào Anh T đang sống với anh Đào Văn H. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào Duy T đến khi cháu đủ 18 tuổi; giao cháu Đào Anh T cho anh Đào Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không ai nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và quyền, nghĩa vụ chung về tài sản: Trong thời gian chung sống, chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H có tạo dựng được một số tài sản chung, khi ly hôn chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H không nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, nên khi ly hôn chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong các bản tự khai, bị đơn anh Đào Văn H trình bày: Về quan hệ hôn nhân, anh Đào Văn H thừa nhận chung sống với chị Nguyễn Thị H từ tháng 02/2007 đến nay, chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán ở địa phương, không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Anh Đào Văn H cũng xác định trong quá trình chung sống anh và chị Nguyễn Thị H có cuộc sống chung đến đầu năm 2016 thì phát sinh xẩy ra mẫu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do tính cách của hai vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, anh Đào Văn H đã nhiều lần chủ động hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị Nguyễn Thị H không đồng ý. Hiện nay anh và chị Nguyễn Thị H đã sống ly thân không có bất cứ quan hệ gì với nhau. Nay chị Nguyễn Thị H xin ly hôn, anh Đào Văn H không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh Đào Văn H thừa nhận, anh và chị Nguyễn Thị H có hai con chung là cháu Đào Anh T - Sinh ngày 17/7/2007 và cháu Đào Duy T - Sinh ngày 18/10/2015. Hiện cháu Đào Duy T đang sống với chị Nguyễn Thị H; cháu Đào Anh T đang sống với anh Đào Văn H. Nếu Tòa án xét xử ly hôn, anh Đào Văn H đề nghị Tòa án giải quyết giao cho anh trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào Anh T; giao cháu Đào Duy T cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không ai nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và quyền, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Đào Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn anh Đào Văn H đã được Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có yêu cầu phản tố. Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Nguyên đơn, chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn với anh Đào Văn H, nguyên nhân là do trong cuộc sống chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi nhau, anh Đào Văn H luôn đập phá đồ đạc trong gia đình, xúc phạm và đánh đập chị Nguyễn Thị H, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc.

Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với chứng cứ do nguyên đơn giao nộp. Đại diện Thôn K, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai đã xác định "Quá trình sinh sống ở tại địa phương chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H thường xuyên xảy ra cãi nhau. Khi mâu thuẫn anh Đào Văn H luôn chửi xúc phạm, đánh đập chị Nguyễn Thị H". Thực tế, tháng 8/2018 chị Nguyễn Thị H do mâu thuẫn đã khởi kiện xin ly hôn với anh Đào Văn H, sau đó anh Đào Văn H có hứa hẹn xin thay đổi, chị Nguyễn Thị H đã rút đơn khởi kiện quay về đoàn tụ, những khi quay về chúng sống mâu thuẫn gia đình không cải thiện được. Hiện nay anh Đào Văn H và chị Nguyễn Thị Hiện đã ly thân sống mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Như vậy, đã chứng minh tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H đã trầm trọng; mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chị Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Đào Văn H là có căn cứ.

Quá trình giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H đều thừa nhận, chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H chung sống với nhau từ tháng 02/2007 đến nay, chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán ở địa phương, không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, lời khai của các đương sự phù hợp với xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Bản Phiệt, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Do đó, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H là hôn nhân không hợp pháp, chung sống với nhau không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, là trái quy định tại điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Hôn nhân không hợp pháp, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Do đó cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H là phù hợp với khoản 2, điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H có 02 con chung là cháu Đào Anh T - Sinh ngày 17/7/2007 và cháu Đào Duy T - Sinh ngày 18/10/2015. Hiện cháu Đào Duy T đang sống với chị Nguyễn Thị H; cháu Đào Anh T đang sống với anh Đào Văn H. Chị Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào Duy T và giao cháu Đào Anh T cho anh Đào Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không ai nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phù hợp với ý kiến của con chưa thành niên là cháu Đào Anh T và phù hợp với nguyện vọng của anh Đào Văn H khi giải quyết vụ án. Thực tế, hiện nay cháu Đào Duy T đang sống với chị Nguyễn Thị H; cháu Đào Anh T đang sống với anh Đào Văn H. Vì vậy, cần giao cháu Đào Duy T - Sinh ngày 18/10/2015 chị Nguyễn Thị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và giao cháu Đào Anh T - Sinh ngày 17/7/2007 cho anh Đào Văn H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, .

Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H đều đề nghị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và quyền, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4, Điều 147; Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 9; khoản 1, Điều 14; khoản 2, Điều 53; Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đào Duy T - Sinh ngày 18/10/2015 đến đủ 18 tuổi. Giao cho anh Đào Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đào Anh T - Sinh ngày 17/7/2007 đến đủ 18 tuổi.

Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung

Chị Nguyễn Thị H và anh Đào Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007884 ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Đào Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ