- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình phúc thẩm"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của anh Hà Hùng C, giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2019/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2019/HNGĐ-PT. Ngày: 27-8-2019 V/v Ly hôn; nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế
Bà Dương Thị Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lê Ngọc Kim Loan - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 8 năm 2019 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2019/TLPT-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2019 về Ly hôn, nuôi con chung.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2019/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 24/2019/QĐXX-PT ngày 07 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim L, sinh năm 1990. (có mặt)
Địa chỉ: Tổ K, phường H, TP. B, tỉnh B.
2. Bị đơn: Anh Hà Hùng Cường, sinh năm 1986. (có đơn xin xử vắng mặt)
Địa chỉ: khu tập thể cán bộ chiến sỹ Phân trại số X, Trại giam Y (đóng trên địa bàn xã U, huyện P, tỉnh Thái Nguyên).
3. Người kháng cáo: Anh Hà Hùng Cường là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn là chị phạm Thị Kim L trình bày: Chị L kết hôn với anh C năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ, huyện P, Thái Nguyên. Trước khi kết hôn hai anh chị có thời gian tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không bị ai lừa dối, cưỡng ép. Sau khi kết hôn, vì điều kiện công việc nên hai anh chị sống xa nhau. Chị L xác định tình cảm vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh và ngày càng trầm trọng hơn, nguyên nhân là do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau, vợ chồng hay xảy ra cãi cọ, anh C ham mê cờ bạc, không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Hai anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 8/2018, vợ chồng không còn sự quan tâm lẫn nhau nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên chị L có nguyện vọng được ly hôn với anh C.
Về con chung: Hai anh chị có 01 con chung là cháu Hà Minh V, sinh ngày 09/12/2015, hiện đang ở với mẹ. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và yêu cầu anh C phải đóng góp phó tổn nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Tại các bản khai tại Tòa án bị đơn là anh Hà Hùng C trình bày: Năm 2014, chị L và anh C kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã thị trấn Đ, P, trước khi kết hôn hai anh chị được tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không bị ai lừa dối, cưỡng ép. Sau khi kết hôn mỗi người sống một nơi do điều kiện công việc. Anh C xác định trong thời gian chung sống, tình cảm vợ chồng không được hạnh phúc, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra, lý do mâu thuẫn là do quan điểm sống khác biệt, vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống nên mới hay xảy ra cãi vã. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2018. Đến nay anh C xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên anh C cũng nhất trí ly hôn với chị L.
Về con chung: Hai anh chị có 01 con chung là Hà Minh V, sinh ngày 09/12/2015, anh C có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và yêu cầu chị L phải đóng góp phí tổn nuôi con chung là 500.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Với nội dung trên, tại bản án số 06/2019/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định: Căn cứ các Điều 28, 35, 39; 147; 266; 273 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Phạm Thị Kim L được ly hôn anh Hà Hùng C.
2. Về con chung: Giao cháu Hà Minh V, sinh ngày 09/12/2015 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Mỗi tháng anh C có trách nhiệm đóng góp cho chị L nuôi con chung 2.000.000đ (hai triệu đồng) đến khi cháu V đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh C được quyền đi lại thăm con chung.
3. Án phí: Chị Phạm Thị Kim L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018659 ngày 27/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P. Anh Hà Hùng C phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con vào ngân sách Nhà Nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/5/2019 bị đơn anh Hà Hùng C có đơn kháng cáo, yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xét xử cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại đơn xin xử vắng mặt, anh C giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃
c thẩm tra ta ̣i phiên toà , căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh:
[1.] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh C làm trong hạn luật đi ̣nh , đã nộp dự phí kháng cáo nên được xem xét theo trinh tự phúc thẩm.
̀
[2.] Về nội dung: Xét kháng cáo của anh Hà Hùng C, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Phạm Thị Kim L được ly hôn anh Hà Hùng C.
Sau khi xét xử sơ thẩm hai bên đã nhất trí nội dung này nên cấp phúc thẩm không xem xét .
Về con chung: Chị L và anh C có 01 con chung là Hà Minh V, sinh ngày 09/12/2015, hiện nay chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Xét công việc của anh C đang làm việc tại trại giam Y, chị L là công chức địa chính xã M, huyện B. Cả hai người đều có thu nhập ổn định và có đủ điều kiện kinh tế để đảm bảo chăm sóc con chung. Tuy nhiên, hiện nay cháu V hơn 3 tuổi, còn nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc, dậy dỗ trực tiếp của người mẹ. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế, điều kiện chăm sóc, giáo dục con chung của các bên và giao con chung cho chị L nuôi dưỡng là đảm bảo được quyền lợi của con chung khi cha mẹ ly hôn.
Anh C cũng không đưa ra được căn cứ, tài liệu gì mới về điều kiện chăm sóc con chung. Vì vậy yêu cầu kháng cáo được nuôi con chung của anh C không được chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên anh C phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện VKS phát biểu sự tuân theo pháp luật của thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin nuôi con của anh Hà Hùng C, giữ nguyên bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 06 ngày 20/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận đơn kháng cáo của anh Hà Hùng C, giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 06/2019/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Căn cứ các Điều 28, 35, 39; 147; 266; 273 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Phạm Thị Kim L được ly hôn anh Hà Hùng C.
2. Về con chung: Giao cháu Hà Minh V, sinh ngày 09/12/2015 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Mỗi tháng anh C có trách nhiệm đóng góp cho chị L nuôi con chung 2.000.000đ (hai triệu đồng) đến khi cháu V đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Thời hạn cấp dưỡng nuôi con, tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Anh C được quyền đi lại thăm con chung.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị Kim L phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018659 ngày 27/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Anh Hà Hùng C phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con vào ngân sách Nhà Nước và 300.000 đồng án phí ly hôn phúc thẩm, được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0018843 ngày 04/6/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND huyện P; - THADS huyện P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Phương |