vanban.org

Bản án 22/2019/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 06/08/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đ nh năm 2014; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án…

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Th y T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 13/2019/HNGĐ-ST ngày 29/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị Thùy T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với anh Hồ Văn H"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đ nh năm 2014; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2019/HNGĐ-PT
Ngày: 06 - 8 - 2019
V/v tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Các Thẩm phán: Ông Hu nh Thanh Tấn.

Ông B i Văn Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Phan Trung Quốc - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30 tháng 7, ngày 06 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2019/TLPT-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 về “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2019/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 22/2019/QĐ-PT ngày 27 tháng 6 năm 2019 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa xét xử phúc thẩm số: 10/TB-TA ngày 12/7/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Th y T, sinh năm 1992; Hộ khẩu trường trú: Thôn A 2, x B, huyện D, tỉnh Quảng Trị; tạm trú: Số x, khu phố E 2, phường F, thị x G, tỉnh B nh Dương; c m t.

- Bị đơn: Anh Hồ Văn H, sinh năm 1993; địa chỉ: Số x, Ấp x, xã I, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; c m t.

- Người làm ch ng:

1. Chị V Thị T, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp x, xã I, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; c m t.

2. Chị Đ ng Thị H, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp x, xã I, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; c m t.

- Người kháng cáo: Chị Lê Thị Th y T, là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Lê Thị Th y T trình bày: Chị T và anh Hồ Văn H có 01 con chung tên là Hồ Khánh D, sinh ngày 22/5/2016 hiện anh H đang nuôi dư ng. Theo bản án sơ thẩm số 47/2018/HNGĐ-ST ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện C quyết định cho chị T được ly hôn anh H và giao con chung Hồ Khánh D cho chị T nuôi dư ng. Tại bản án phúc thẩm số 27/2018/HNGĐ-PT ngày 15/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp quyết định chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh H, sửa bản án sơ thẩm số 47/2018/HNGĐ-ST ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện C về việc nuôi con chung và giao con chung Hồ Khánh D cho anh H tiếp tục nuôi dư ng.

Sau khi ly hôn, gia đ nh anh H gây kh khăn cho chị T khi đến thăm nom con chung, c 2-3 lần chị T đến thăm con nhưng gia đ nh anh H không cho g p m t. Anh H chỉ cho chị T được đến nhà g p m t và thăm con chung rồi về, còn những quyền khác th đều bị cấm cản. Chị T không c ch ng c ch ng minh gia đ nh anh H cản trở không cho g p con và cũng không nhớ ngày tháng, chỉ nhớ năm 2019. Dịp lễ, tết chị T muốn đưa con chung về thăm gia đ nh chị T, dẫn con đi mua sắm nhưng anh H không đồng ý. Do ở xa nên chị T không thường xuyên về thăm con, đề nghị anh H cho n i chuyện với con qua điện thoại nhưng anh H t m mọi lý do để t chối. Gia đ nh anh H cho rằng ly hôn xong, chị T không được quyền chăm s c, nuôi dư ng con. Anh H gửi h nh ảnh dao kiếm hăm dọa chị T, quản lý con chung không tốt v anh H giao con cho mẹ của anh H giữ trong thời gian anh H đi làm. Con chung chưa đủ 36 tháng tuổi nên rất cần sự chăm s c, nuôi dư ng trực tiếp của chị T và con chung t nh do chị T trực tiếp nuôi dư ng nên hiểu được tâm sinh lý về mọi m t của con. Hiện nay chị T c công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện đảm bảo việc nuôi dư ng, chăm s c và dạy con chung. Do vậy chị Lê Thị Th y T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn t anh Hồ Văn H sang cho chị T được nuôi con chung Hồ Khánh D, sinh ngày 22/5/2016 và không yêu cầu anh H cấp dư ng nuôi con.

Bị đơn anh Hồ Văn H trình bày: Sau khi ly hôn, anh H và gia đ nh không ngăn cản việc chị T đến nhà thăm nom con chung, anh H không đồng ý để chị T đưa con chung đến tỉnh B nh Dương sinh sống với gia đ nh chị T v lo sợ chị T đem con chung đi giấu ho c đưa về quê ở tỉnh Quảng Trị th anh H và gia đ nh sẽ không t m g p được con chung. Chị T c 02 lần điện thoại thông báo trước xuống thăm con, lần đầu mẹ anh H không c nhà và 01 lần sau mẹ anh H đưa con đi chơi với người thân nên không c ở nhà, những lần này anh H c điện thoại thông báo lại cho chị T biết, chị T vẫn đến nhà nên không g p được con chung. Còn các lần còn lại chị T vẫn g p con và không ai c cản trở.

Anh H cho rằng việc chăm s c con chung của anh H rất tốt, buổi sáng đi làm th anh H gửi con cho mẹ ruột giữ. Các h nh ảnh dao kiếm anh H gửi chị T là do anh H lên mạng tải về, gửi zalo cho chị T do anh H ghen. Hiện nay anh H cũng c thu nhập ổn định, c xác nhận của tổ trưởng tổ công đoàn nơi anh H làm việc. Anh H cam kết, trường hợp chị T c nhu cầu đem con chung đến tỉnh B nh Dương để thăm nom, chăm s c thì anh H sẽ tạo điều kiện để chị T g p con chung ở B nh Dương mỗi tháng 01 lần. Anh H không đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dư ng theo yêu cầu của chị T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2019/HNGĐ-ST ngày 29/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp đ tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Th y T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.

Anh Hồ Văn H được tiếp tục nuôi con chung Hồ Khánh D, sinh ngày 22/5/2016. Chị Lê Thị Th y T được quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm s c và giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án ph , quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/3/2019 chị Lê Thị Th y T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của chị T, chấp nhận cho chị T được trực tiếp nuôi dư ng con chung Hồ Khánh D, sinh ngày 22/5/2016.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu được trực tiếp nuôi dư ng con chung Hồ Khánh D, sinh ngày 22/5/2016 cho đến khi cháu D thành niên đủ 18 tuổi , với lý do chị T đủ điều kiện nuôi con, lương hàng tháng của chị T khoảng 6.000.000 đồng; sau khi ly hôn, gia đ nh anh H cản trở chị T trong việc thăm nom, chăm s c con chung; Tòa án cấp sơ thẩm không giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ chăm s c là không đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người làm ch ng V Thị T tr nh bày: Chị T sinh sống c ng địa phương với anh H và nhà ở của chị T hiện nay cách nhà ở cha mẹ anh H khoảng 2-3 căn nhà, nên biết rất r về nếp sống của anh H và gia đ nh anh H. Chị T cho rằng ở địa phương anh H, gia đ nh anh H sống tốt, c văn h a. T ngày anh H đem con t B nh Dương về địa phương sinh sống đến nay th anh H và gia đ nh anh H nuôi dư ng con anh H rất tốt, chăm s c rất k , cháu bé phát triển nhanh về cân n ng và chiều cao và hoạt bát. Việc chị T nhiều lần về thăm con th không ai cản trở.

Người làm ch ng Đ ng Thị H tr nh bày: Chị H sinh sống c ng địa phương với anh H và nhà ở của chị H hiện nay gần nhà ở cha mẹ anh H. địa phương anh H sống rất tốt, chăm chỉ làm việc, thương yêu con, cha mẹ anh H rất thương con anh H và phụ anh H chăm s c cháu rất cẩn trọng nên cháu bé phát triển tốt về thể chất, tinh thần và những lần chị T về thăm con th chị H thấy anh H c ng gia đ nh không ai cản trở chị T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự và người tham gia tố tụng khác đ chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá tr nh thụ lý phúc thẩm và xét xử. Đơn kháng cáo của chị T đúng thời hạn luật định.

Tòa án cấp sơ thẩm đ xem xét nhiều m t và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T là ph hợp. Căn c vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 13/2019/HNGĐ-ST ngày 29/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp, không chấp nhận toàn bộ nội dung đơn kháng cáo của chị Lê Thị Th y T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của chị Lê Thị Th y T nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ.

Tòa án cấp sơ thẩm đ xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đầy đủ thành phần những người tham gia tố tụng, thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Chị T và anh H đ ly hôn theo bản án sơ thẩm số 47/2018/HNGĐ-ST ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Về nuôi con chung, anh H không đồng ý với bản án này nên kháng cáo.

Tại bản án phúc thẩm số: 27/2018/HNGĐ-PT ngày 15/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp quyết định giao con chung Hồ Khánh D, sinh ngày 22/5/2016 cho anh H tiếp tục nuôi dư ng. Anh H không yêu cầu chị T cấp dư ng nuôi con. Chị T được quyền đến thăm con, chăm s c và giáo dục con chung không ai được cản trở.

Xét yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Th y T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Theo lời tr nh bày của chị T và anh H th hiện tại các đương sự đều c việc làm, c thu nhập tương đối ổn định và đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục cháu D. Chị T và anh H đều yêu thương cháu D và mong muốn được trực tiếp nuôi con. Nhưng sau khi ly hôn, chị T và anh H không th a thuận được việc thay đổi người trực tiếp nuôi con ph hợp với lợi ch của con. Tuy nhiên xét về nhiều m t thực tế th anh H còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục con. Bởi lẽ, anh H đang tham gia tổ dịch vụ lao động làm thuê tại địa phương thuộc x I, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; t tháng 4/2018 đến nay anh H và cháu D sinh sống c ng nhà cha mẹ ruột anh H, gia đ nh anh H c cho anh H đất để canh tác; sau khi ly hôn, anh H c ng các thành viên gia đ nh trông nom, chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục cháu D phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần, được hai người làm ch ng là chị V Thị T, chị Đ ng Thị H cung cấp lời khai xác nhận. Trong khi đ chị T quê quán ở tỉnh Quảng Trị, hiện đang làm công nhân ở Công ty TNHH MTV H tại thị x G, tỉnh B nh Dương và thuê nhà trọ ở, thời gian không ổn định.

T những căn c trên, xét thấy việc anh Hiếu trực tiếp nuôi dư ng con th môi trường sống thuận lợi và quen thuộc với cháu D, cháu D được anh H c ng cha mẹ anh H trực tiếp nuôi dư ng, nơi cháu D đang sinh sống là nhà ông bà nội của cháu D. Xét về điều kiện kinh tế, môi trường sống, tâm sinh lý của tr em th việc cháu D do anh H trực tiếp nuôi dư ng sẽ phát triển tốt về mọi m t. Hiện tại háu D mới hơn 03 tuổi, việc thay đổi môi trường sống vào thời điểm này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm lý của cháu và anh H cũng không đồng ý giao con chung Hồ Khánh D cho chị T trực tiếp nuôi dư ng. Đồng thời chị T chỉ tr nh bày mà không c ch ng c ch ng minh anh H không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục con được quy định tại khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đ nh, cũng như việc anh H c ng gia đ nh anh H cản trở chị T trong việc trông nom, chăm s c, nuôi dư ng, giáo dục con. Tại phiên tòa anh H cam kết, trường hợp chị T c yêu cầu thì anh H sẽ tạo điều kiện để chị T và cháu D g p ở B nh Dương mỗi tháng 01 lần. Do vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Th y T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là c căn c , nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của chị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 13/2019/HNGĐ-ST ngày 29/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Tuy nhiên tại phần quyết định của bản án sơ thẩm đ tuyên xử anh H được tiếp tục nuôi con chung Hồ Khánh D, sinh ngày 22/5/2016; chị T được quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm s c và giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Những nội dung này sẽ được Hội đồng xét xử phúc thẩm điều chỉnh trong bản án phúc thẩm cho ph hợp với quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là ph hợp như đ nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Do Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án bị kháng cáo, nên chị T phải chịu án ph dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đ nh năm 2014; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Th y T.

2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 13/2019/HNGĐ-ST ngày 29/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Lê Thị Th y T.

3. Về án ph :

3.1. Chị Lê Thị Th y T phải chịu 300.000 đồng án ph hôn nhân gia đ nh sơ thẩm; nhưng được khấu tr vào tiền tạm ng án ph mà chị T đ nộp theo biên lai số x ngày x tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

3.2. Chị Lê Thị Th y T phải chịu 300.000 đồng án ph dân sự phúc thẩm; nhưng được khấu tr vào tiền tạm ng án ph phúc thẩm đ nộp là 300.000 đồng theo biên lai số x ngày x tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

4. Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ