vanban.org

Bản án 22/2019/HNGĐ-PT — Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 18/04/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị R yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số Quy đ…; Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 135 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2019/HNGĐ-PT
Ngày: 18/4/2019
V/v tranh chấp “Chia tài sản
sau ly hôn”.

NHÀÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- THnhà phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ngoan;

Các Thẩm phán: Ông V Trung Hi u;

Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Giang, là Thư T a n nhân dân tỉnhà Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhàân dân tỉnh Tiền Giang: Ông Võ Trung Hi u, Kiểm s t viên tham gia phiên t a.

Trong các ngày 11 và 18 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhàân dân tỉnhà Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 13/2018/TLPT-HNGĐ ngày 28/02/2019 về việc tranh chấp: “Chia tài sản sau ly hôn”.

Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 62/2018/HNGĐ-ST ngày 29/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnhà Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số 85/2019/QĐ-PT ngày 01/3/2019 giữa c c đương sự:

*. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị R, sinhà năm 1970; (có m t

Địa chỉ: ấp 5, xã 1, huyện T, tỉnhà Tiền G.

*. Bị đơn: Anhà Trần Hoàng G, sinhà năm 1969; (có m t

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnhà Tiền G.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Trần Hoàng G: Luật gia Nguyễn Văn G - Hội viên Hội Luật gia tỉnhà Tiền Giang. (có m t

*. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Thị T, sinhà năm 1932; (ch t ngày 21/7/2018)

Người k thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng:

+ Bà Trần Thị H, sinhà năm 1967; (có m t

Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện T, tỉnhà Tiền G.

+ Anhà Trần Hoàng G, sinhà năm 1969; (có m t

Địa chỉ: T, xã T2, huyện T, tỉnhà Tiền Giang.

- Anhà Trần Hoàng V, sinhà năm 1990; (có m t

- Chị Trần Thị Mộng K, sinhà năm 1993; (có m t

Cùng địa chỉ: ấp 5, xã 1, huyện T, tỉnhà Tiền G.

- Anhà Nguyễn Ngọc P, sinhà năm 1979; (có m t

Địa chỉ: ấp B, xã B2, huyện C, tỉnhà Tiền G.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anhà Nguyễn Ngọc P: Luật sư Nguyễn Văn Th - Văn phòng luật sư Nguyễn Văn Th, thuộc Đoàn Luật sư tỉnhà Tiền Giang. (có m t

- Ông Lưu Văn T, sinhà năm 1963; (có m t

Địa chỉ: Số A, thị trấn T, huyện C, tỉnhà Tiền Giang.

- Công ty cổ phần rau quả Tiền Giang;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Alex Tran, sinhà năm 1958;

Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện Châu Thànhà, tỉnhà Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn Đ, sinhà năm 1969; (vắng m t

Địa chỉ: Số 59 ấp T, xã T, huyện T, tỉnhà Tiền Giang.

- Ủy ban nhàân dân huyện T, tỉnhà Tiền Giang.

Địa chỉ: Khu D, thị trấn M, huyện huyện T, tỉnhà Tiền Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanhà Q - Chức vụ: Chủ tịch.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc L - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnhà Tiền Giang. (vắng m t

*. Người kháng cáo: Bị đơn Trần Hoàng G và nhàững người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Văn T, Nguyễn Ngọc P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn Nguyễn Thị R trìnhà bày:

Ông Trần Hoàng G và bà Nguyễn Thị R cưới nhàau vào năm 1989, không có đăng

t hôn, đ n năm 2002 đăng

t hôn và chung sống đ n năm 2004 thì ly hôn. Quy t địnhà cho ly hôn và giải quy t quyền nuôi con đã có hiệu lực thi hànhà. Phần tài sản chung nhàư vật dụng, đồ dùng sinhà hoạt gia đìnhà ông G đã thi Hnhà chia cho bà R xong, bà R và ông G không tranhà chấp.

Trong quá trìnhà tố tụng, bà R trìnhà bày tài sản chung của bà và ông G còn có nhàững tài sản gồm: Giá trị căn nhà ông G đã th o dỡ là 7.833.000 đồng; số tiền cho thuê diện tích đất nhàận khoán 02 ha là 22.000.000 đồng; số tiền đền bù, hỗ trợ do thu hồi diện tích đất nhàận ho n 02 ha là 902.000.000 đồng (trong đó có diện tích đất 0,66 ha ông G đã chuyển nhàượng cho ông P); phần đất thổ cư có diện tích là 0,12 ha ông G đã chuyển nhàượng cho ông T. Bà yêu cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhàượng quyền sử dụng đất giữa ông G với ông P đối với diện tích đất 0,66 ha và hủy một phần hợp đồng chuyển nhàượng quyền sử dụng đất giữa ông G với ông T đối với diện tích đất 0,12 ha, yêu cầu chia đôi toàn bộ tài sản, giao lại cho bà ½ diện tích đất 0,12 ha mà ông G đã chuyển nhàượng cho ông T. Tại phiên tòa, bà R yêu cầu hủy toàn bộ hai hợp đồng chuyển nhàượng đất nêu trên, yêu cầu chia đôi toàn bộ tài sản.

*. Bị đơn Trần Hoàng G trìnhà bày:

Tất cả các tài sản trên nhàư bà R trìnhà bày là có, nhàưng đó là tài sản của riêng ông, đất do ông nhàận khoán trước khi ông k t hôn với bà R, không phải là tài sản chung của ông với bà R, ông hông đồng ý chia tài sản theo yêu cầu của bà R.

*. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Hoàng V và Trần Thị Mộng K trìnhà bày:

Anhà chị là con ruột của bà R và ông G, anhà, chị thống nhàất với yêu cầu khởi kiện của bà R.

*. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị H trìnhà bày:

Bà là con ruột của bà Lê Thị T, là chị ruột của ông Trần Hoàng G. Bà không có ý ki n gì về việc tranhà chấp tài sản giữa bà R và ông G, việc tranhà chấp do bà R và ông G tự quy t địnhà.

*. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc P trìnhà bày:

Ông có nhàận chuyển nhàượng của ông G diện tích đất 0,66 ha với giá là 47.000.000 đồng. Việc ông nhàận chuyển nhàượng diện tích đất 0,66 ha của ông Trần Hoàng G là đúng ph p luật, có thông qua Nông trường Tân Lập, Nông trường có làm hợp đồng giao cho ông nhàận khoán diện tích đất trên, hợp đồng có công chứng, chứng thực. Diện tích đất trên đã được thu hồi để xây dựng Khu công nghiệp Long G, NHÀ nước có đền bù đất là 181.000.000 đồng/ha. Ông đã nhàận số tiền đền bù là 119.460.000 đồng, số tiền hỗ trợ lần 1 là 66.000.000 đồng. Đối với số tiền hỗ trợ lần 2 là 112.200.000 đồng (170.000.000 đồng/ha) ông chưa nhàận do Tòa án đã P tỏa. Ông không chấp nhàận yêu cầu khởi kiện của bà R về việc hủy hợp đồng chuyển nhàượng diện tích đất 0,66 ha giữa ông G với ông, ông yêu cầu được nhàận số tiền 112.800.000 đồng mà T a n đã p dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời P tỏa tài sản.

*. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Văn T trìnhà bày:

Ông có nhàận chuyển nhàượng của ông G diện tích đất 0,12 ha với giá là 80.000.000 đồng, việc ông nhàận chuyển nhàượng diện tích đất 0,12 ha của ông G là đúng pháp luật, có thông qua Nông trường Tân Lập, Nông trường có làm hợp đồng giao cho ông nhàận khoán diện tích đất trên, hợp đồng có công chứng, chứng thực. Ông không chấp nhàận yêu cầu khởi kiện của bà R về việc hủy hợp đồng chuyển nhàượng diện tích đất 0,12 ha giữa ông G với ông.

*. Người đại diện cho Công ty cổ phần rau quả Tiền G trìnhà bày:

Ông G có đứng tên nhàận khoán của Nông trường diện tích đất 02 ha và diện tích đất 0,12ha. Trước đây Nông trường có đồng ý cho ông G chuyển nhàượng cho ông P diện tích đất 0,66 ha trong diện tích đất 02 ha ông G nhàận khoán của Nông trường, chuyển nhàượng cho ông T diện tích đất 0,12 ha, sau đó Nông trường có làm hợp đồng nhàận khoán với ông P và ông T. Phần đất 1,34 ha còn lại của ông G đứng tên nhàận khoán và phần đất ông G chuyển nhàượng cho ông P đã được thu hồi để xây dựng Khu công nghiệp Long G và có đền bù nhàư bà R, ông G, ông P trìnhà bày. Đại diện Công ty Cổ phần Rau quả Tiền G không có ý ki n gì.

*. Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhàân dân huyện T, tỉnhà Tiền G trìnhà bày:

Tài sản bị P tỏa theo Quy t địnhà số 02/2017/QĐ-BPKCTT ngày 24-7-2017 của Tòa án nhàân dân huyện T gồm số tiền 227.800.000 đồng của ông Trần Hoàng G và số tiền 112.200.000 đồng của ông Nguyễn Ngọc P. Hai khoản tiền trên chờ Tòa án nhàân dân huyện T xem xét, xử l theo quy địnhà của pháp luật.

* Bản án Hôn nhàân và gia đìnhà sơ thẩm số 62/2018/HNGĐ-ST ngày 29/10/2018 của Tòa án nhàân dân huyện T, tỉnhà Tiền G đã quy t địnhà:

- Áp dụng c c Điều 95, 97 của Luật Hôn nhàân và gia đìnhà năm 2000; Các Điều 136, 144, 146 Bộ luật Dân sự năm 1995; c c Điều 127, 135, 137 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi Hnhà án dân sự; các Điều 24, 25 Nghị địnhà 70/NĐ-CP ngày 03-10-2001 của Chínhà phủ; khoản 9 Điều 27 Pháp lệnhà số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27-02-2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; điểm b khoản 3 Điều 17 Nghị quy t số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhàân dân tối cao.

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 74; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử:

Chấp nhàận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị R.

1. Về tài sản:

- Chia cho bà Nguyễn Thị R và ông Trần Hoàng G mỗi người được ½ giá trị căn nhà là 3.916.500 đồng và ½ số tiền cho thuê đất là 11.000.000 đồng, tổng cộng là 14.916.500 đồng (mười bốn triệu chín trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng).

+ Buộc ông Trần Hoàng G giao lại cho bà Nguyễn Thị R số tiền 14.916.500 đồng (mười bốn triệu chín trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng).

- Chia cho bà Nguyễn Thị R và ông Trần Hoàng G mỗi người được ½ số tiền đền bù, hỗ trợ do thu hồi diện tích đất 1,34 ha là 302.170.000 đồng (ba trăm lẻ hai triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng).

+ Bà Nguyễn Thị R liên hệ với Ủy ban nhàân dân huyện T để được nhàận một phần trong số tiền được chia là 227.800.000 đồng (hai trăm hai mươi bảy triệu tám trăm nghìn đồng).

+ Buộc ông Trần Hoàng G giao lại cho bà Nguyễn Thị R một phần số tiền được chia là 74.370.000 đồng (bảy mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng).

- Hủy một phần hợp đồng chuyển nhàượng đất giữa ông Trần Hoàng G với ông Nguyễn Ngọc P đối với diện tích đất 0,66 ha.

+ Buộc ông Trần Hoàng G trả lại cho ông Nguyễn Ngọc P ½ số tiền chuyển nhàượng đất là 23.500.000 đồng (hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).

+ Buộc ông Nguyễn Ngọc P trả lại cho bà Nguyễn Thị R số tiền đền bù, hỗ trợ do thu hồi đối với ½ diện tích đất 0,66 ha là 148.830.000 đồng (một trăm bốn mươi tám triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).

- Hủy một phần hợp đồng chuyển nhàượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Hoàng G với ông Lưu Văn T đối với diện tích đất 891,6m2.

+ Buộc ông Trần Hoàng G trả lại cho ông Lưu Văn T ½ số tiền chuyển nhàượng đất 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

+ Buộc ông Lưu Văn T trả lại cho bà Nguyễn Thị R diện tích đất 440,7m2 có tứ cận nhàư sau:

Đông G phần đất còn lại trong diện tích đất 0,12 ha (theo đo đạc thực t là 896,1 m2 ông Lưu Văn T nhàận khoán của Nông trường dài 39,20 m;

Tây G đất bà Huỳnhà Thị C nhàận khoán của Nông trường dài 38,30 m;

Nam G đất chuyên dùng đường tỉnhà 866 (tim đường vào 28m) dài 11,30m;

Bắc G đất Nông trường Tân Lập dài 11,48 m;

(có sơ đồ kèm theo).

+ Buộc ông Lưu Văn T trả cho bà Nguyễn Thị R giá trị diện tích đất chênhà lệch 5,1 m2 là 4.590.000 đồng (bốn triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng).

- Thực hiện tất cả việc giao nhàận tiền và đất nêu trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Giữ nguyên Quy t địnhà áp biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2017/QĐ-BPKCTT ngày 24-4-2017 của Tòa án nhàân dân huyện T cho đ n khi vụ n này được giải quy t bằng một bản án ho c quy t địnhà đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

3. Về án phí:

- Bà Nguyễn Thị R phải chịu 22.636.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng n phí là 4.275.000 đồng theo biên lai thu số 17643 ngày 12-8-2015, 200.000 đồng theo biên lai thu số 17869 ngày 05-01-2016 và 2.125.000 theo biên lai thu số 18613 ngày 09-5-2017 của Chi cục Thi hànhà án dân sự huyện T, tỉnhà Tiền G, bà R còn phải nộp ti p số tiền 16.036.700 đồng (mười sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm đồng).

- Ông Trần Hoàng G phải chịu 15.854.300 đồng (mười lăm triệu tám trăm năm mươi bốn nghìn ba trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Nguyễn Ngọc P và ông Lưu Văn T mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hànhà án và quyền kháng cáo của c c đương sự theo quy địnhà của pháp luật.

Ngày 08/11/2018, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc P kháng cáo bản n sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản n sơ thẩm, chấp nhàận yêu cầu của ông P được ti p tục nhàận h t số tiền còn lại 112.200.000 đồng do nhàà nước hỗ trợ bồi thường thiệt hại tài sản khi thu hồi đất. Đồng thời giải tỏa quy t địnhà áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2017/QĐ-BPKCTT ngày 24/4/2017 của Tòa án nhàân dân huyện T.

Ngày 09/11/2018, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Văn T kháng cáo bản n sơ thẩm yêu cầu sửa bản n sơ thẩm. Ông T yêu cầu hủy các phần quy t địnhà của bản n sơ thẩm đã tuyên: Hủy 01 phần hợp đồng chuyển nhàượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Hoàng G với ông Lưu Văn T đối với diện tích 891,6 m2; Buộc ông T trả lại cho bà R diện tích 440,7 m2; Buộc ông T trả cho bà R giá trị diện tích chênhà lệch 5,1 m2 là 4.590.000 đồng;

Công nhàận việc giữa ông T, ông G và Nông trường Tân Lập hìnhà thức nên hợp đồng 171/D9/2007/HĐK là đúng quy địnhà pháp luật về quyền thuê khoán trên diện tích 0,12 ha là việc của cá nhàân ông T với Nông trường Tân Lập.

Ngày 12/11/2018, bị đơn Trần Hoàng G kháng cáo bản n sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhàận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩmbị đơn Trần Hoàng G, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Văn T, Nguyễn Ngọc P giữ nguyên yêu cầu h ng c o đề nghị không chấp nhàận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn Nguyễn Thị R hông đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đề nghị giữ nguyên bản n sơ thẩm.

Luật gia Nguyễn Văn G - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Trần Hoàng G cho rằng việc T a n cấp sơ thẩm c địnhà tài sản đang tranhà chấp là tài sản chung của vợ chồng và chấp nhàận yêu cầu hởi iện của chị Rồi là hông phù hợp với quy địnhà của ph p luật. Việc ông G chuyển nhàượng cho ông T, ông P là chuyển nhàượng thànhà quả lao động, hông phải chuyển nhàượng quyền sử dụng đất. Đồng thời việc T a n cấp sơ thẩm p dụng biện ph p hẩn cấp tạm thời là hông đúng nên đề nghị sửa n sơ thẩm hông chấp nhàận yêu cầu hởi iện của bà Rồi, hủy bỏ biện ph p hẩn cấp tạm thời số 02/2017/QĐ-BPKCTT ngày 24-4-2017 của Tòa án nhàân dân huyện T.

Luật sư Nguyễn Văn Th - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc P cho rằng việc chuyển nhàượng giữa ông G và ông P là chuyển nhàượng tài sản, chi phí đầu tư trên đất hông phải chuyển nhàượng quyền sử dụng đất. Hợp đồng giữa ông G với ông P và giữa ông P và Nông trường Tân Lập là độc lập với nhàau. Vì vậy đề nghị Hội đồng t ử phúc thẩm sửa bản n sơ thẩm, chấp nhàận yêu cầu h ng c o của ông P, đồng thời hủy bỏ biện ph p hẩn cấp tạm thời số 02/2017/QĐ-BPKCTT ngày 24-4-2017 của Tòa án nhàân dân huyện T.

Đại diện Viện kiểm sát nhàân dân tỉnhà Tiền G tại phiên tòa phát biểu ý ki n về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trìnhà giải quy t vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử và nhàững người tham gia tố tụng kể từ khi thụ l vụ n cho đ n trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị n đã tuân thủ đúng c c qui địnhà của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ n đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhàận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và chấp nhàận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sửa bản n sơ thẩm.

NHÀ N Đ NHÀ CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra tại phiên t a. Căn cứ vào k t quả tranhà luận tại phiên t a trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý ki n của c c đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhàận địnhà:

[1] Về tố tụng: Ông Bùi Văn Đ là người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần rau quả Tiền G và ông Trần Ngọc L là người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhàân dân huyện Tân Phước đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhàưng vắng m t lần thứ hai nên căn cứ quy địnhà của khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án ti n Hnhà xét xử vắng m t đương sự nêu trên.

[2] Về nội dung kháng cáo: Bị đơn Trần Hoàng G yêu cầu không chấp nhàận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Văn T, Nguyễn Ngọc P yêu cầu sửa bản n sơ thẩm công nhàận hợp đồng giữa ông T, ông P, ông G, Nông trường Tân Lập là đúng quy địnhà của quy địnhà của pháp luật về quyền thuê khoán.

Xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự nhàận thấy: Bà R và ông G sống chung nhàư vợ chồng vào năm 1989, năm 2002 mới đăng

t hôn, đ n năm 2004 ông G và bà R ly hôn, quy t địnhà cho ly hôn có hiệu lực pháp luật. Căn cứ vào Nghị quy t số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hànhà Luật Hôn nhàân và gia đìnhà thì hôn nhàân giữa bà R và ông G được công nhàận kể từ khi ông bà chung sống (hôn nhàân thực t ).

Theo lời trìnhà bày của c c đương sự thì năm 1998 ông G, bà R nhàận ho n 02 ha đất để sản xuất nông nghiệp và năm 2001 được giao 0,12 ha để làm nhàà ở. Do hôn nhàân của ông G, bà R được công nhàận từ thời điểm sống chung là năm 1989 nên các chi phí đầu tư trên phần đất được giao khoán vào năm 1998 và năm 2001 là tài sản chung của ông G, bà R trong thời kỳ hôn nhàân. Ông G tự mìnhà chuyển nhàượng chi phí đầu tư trên 0,66 ha đất cho ông P, 0,12 ha đất cho ông T mà không có sự đồng ý của bà R là không phù hợp với quy địnhà của pháp luật nên ông G phải có nghĩa vụ chia gi trị tài sản chung cho bà Rồi. Việc Tòa án cấp sơ thẩm hủy một phần hợp đồng chuyển nhàượng giữa ông G với ông P phần đất có diện tích 0,66ha và hủy một phần hợp đồng chuyển nhàượng quyền sử dụng đất 0,12 ha giữa ông G với ông T là hông phù hợp vì ông G, bà Rồi là người nhàận ho n đất từ Nông trường Tân Lập (đất do UBND tỉnhà giao cho Nông trường) và việc ông G tự chuyển nhàượng cho ông T, ông P là chuyển nhàượng chi phí đầu tư trên đất chứ không phải chuyển nhàượng quyền sử dụng đất. Sau khi ông G chuyển nhàượng chi phí đầu tư trên đất cho ông T, ông P xong thì giữa Nông trường Tân Lập và ông T, ông P ti p tục

t hợp đồng thuê ho n sau đó nhàà nước mới thu hồi c c phần đất này để làm hu công nghiệp. Việc Tòa án cấp sơ thẩm c địnhà các bên ký k t hợp đồng chuyển nhàượng quyền sử dụng đất giữa ông G và ông P, giữa ông G và ông T và c địnhà hợp đồng vô hiệu một phần nên quy t địnhà hủy một phần là chưa có cơ sở vững chắc.

Việc bà R hông có đất cất nhà ở nên yêu cầu ông T trả lại ½ đất ở của phần đất 0,12 ha (đo đạc thực t là 891,6 m2) là hông có cơ sở. Bởi lẽ sau khi ông T giao tiền chi phí đầu tư trên đất cho ông G (chồng bà R), Nông trường làm thủ tục ký k t giao khoán lại cho ông T 0,12 ha (đo đạc thực t là 891,6 m2). Do vậy bà R muốn có đất cất nhà ở thì bà liên hệ với Nông trường in được nhàận ho n đất để cất nhàà ở ho c là bà mua đất cất nhà ở.

Tổng số tiền đền bù, hỗ trợ diện tích đất 02 ha là 902.000.000 đồng (phần 1,34 ha là 604.340.000 đồng, phần 0,66 ha là 297.660.000 đồng) nên ông G có nghĩa vụ trả cho bà Rồi 451.000.000 đồng.

Đối với diện tích đất ông G chuyển nhàượng cho ông T là 0,12 ha (theo đo đạc thực t là 891,6 m2), căn cứ biên bản địnhà gi ngày 27-7-2018 là 900.000 đồng/m2 thì có gi trị là 802.440.000 đồng nên ông G có nghĩa vụ trả cho bà Rồi 401.220.000 đồng.

Như vậy ông G có nghĩa vụ trả cho bà Rồi 852.220.000 đồng.

Đối với Quy t địnhà áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2017/QĐ-BPKCTT ngày 24/4/2017 của Tòa án nhàân dân huyện T P tỏa số tiền ông G được thông báo nhàận là 227.800.000 đồng, P tỏa số tiền ông P được thông báo nhàận là 112.200.000 đồng là hông phù hợp với quy địnhà ph p luật nên cần hủy bỏ. (Bà R được liên hệ với Ủy ban nhàân dân huyện T để nhàận số tiền hỗ trợ, đền bù là 227.800.000 đồng. Ông P được quyền liên hệ với Ủy ban nhàân dân huyện T để nhàận số tiền hỗ trợ, đền bù là 112.200.000 đồng)

Đối với căn nhà bà R trìnhà bày là tài sản chung của bà và ông G, bà T cho cây làm nhà và ông bà có mua tole mới để lợp, ông G cho rằng tiền mua tole là của bà T cho, nhàưng hông có căn cứ gì chứng minhà. Hội đồng xét xử xác địnhà căn nhàà là tài sản chung của ông G và bà R. Ông G đã dỡ căn nhàà, giá trị căn nhà ông G và bà R thỏa thuận là 7.833.000đồng, Hội đồng xét xử chia đôi cho ông G và bà R mỗi người là 3.916.500đồng.

Đối với số tiền ông G cho ông Ba và bà Hồng thuê diện tích đất nhàận ho n 02ha là 22.000.000 đồng, do chi phí đầu tư trên 02 ha là tài sản chung của ông bà nên số tiền 22.000.000 đồng có được từ việc cho thuê đất, Hội đồng xét xử c địnhà là tài sản chung của ông G, bà R và chia đôi mỗi người số tiền 11.000.000 đồng.

Về án phí phúc thẩm: Ông T và ông P hông phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, ông G phải chịu án phí phúc thẩm theo quy địnhà pháp luật.

Ý ki n của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Trần Hoàng G có một phần phù hợp với nhàận địnhà của Hội đồng xét xử nên được chấp nhàận một phần.

Ý ki n của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông P là phù hợp với nhàận địnhà của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

X t đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 148, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhàận yêu cầu h ng c o của ông Trần Hoàng G. Chấp nhàận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc P và ông Lưu Văn T. Sửa bản n số 62/2018/HNGĐ-ST ngày 29/10/2018 của Tòa án nhàân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Áp dụng c c Điều 95, 97 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Các Điều 136, 144, 146 Bộ luật Dân sự năm 1995; c c Điều 127, 135, 137 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; các Điều 24, 25 Nghị địnhà 70/NĐ-CP ngày 03-10-2001 của Chínhà phủ; khoản 9 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27-02-2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; điểm b khoản 3 Điều 17 Nghị quy t số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13-6-2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 74; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử:

Chấp nhàận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị R.

1. Về tài sản:

- Chia cho bà Nguyễn Thị R và ông Trần Hoàng G mỗi người được ½ giá trị căn nhà là 3.916.500 đồng và ½ số tiền cho thuê đất là 11.000.000 đồng, tổng cộng là 14.916.500 đồng.

+ Buộc ông Trần Hoàng G giao lại cho bà Nguyễn Thị R số tiền 14.916.500 đồng. (Mười bốn triệu, chín trăm mười s u nghìn, năm trăm đồng)

- Chia cho bà Nguyễn Thị R và ông Trần Hoàng G mỗi người được ½ số tiền chuyển nhàượng chi phí đầu tư trên đất đối với phần đất có diện tích 02 ha là 451.000.000 đồng.

+ Buộc ông Trần Hoàng G giao lại cho bà Nguyễn Thị R số tiền 451.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi mốt triệu đồng).

- Đối với diện tích đất ông G chuyển nhàượng cho ông T là 0,12 ha (theo đo đạc thực t là 891,6 m2 , căn cứ biên bản địnhà gi ngày 27-7-2018 là 900.000 đồng/m2 thì có gi trị là 802.440.000 đồng nên ông G phải hoàn trả cho bà Rồi 401.220.000 đồng (Bốn trăm lẻ một triệu, hai trăm hai mươi nghìn đồng).

Tổng cộng ông G có nghĩa vụ trả cho bà Rồi 867.136.500 đồng (t m trăm s u mươi bảy triệu, một trăm ba mươi s u nghìn, năm trăm đồng), bà R được quyền liên hệ với UBND huyện T để nhàận số tiền hỗ trợ, đền bù là 227.800.000 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu, t m trăm nghìn đồng) nên ông G có nghĩa vụ trả ti p cho bà R 639.336.500 đồng (S u trăm ba mươi chín triệu, ba trăm ba mươi s u nghìn, năm trăm đồng) khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2017/QĐ-BPKCTT ngày 24 tháng 4 năm 2017 của Tòa n nhàân dân huyện Tân Phước, tỉnhà Tiền G. Bà Nguyễn Thị R được nhàận lại số tiền 9.343.200 đồng theo sổ ti t kiệm có kỳ hạn số AD 00003011017 ngày 24/4/2017 tại Ngân Hng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện T, tỉnhà Tiền G.

3. Về án phí:

- Bà Nguyễn Thị R phải chịu 38.014.095 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng n phí là 4.275.000 đồng theo biên lai thu số 17643 ngày 12-8-2015, 200.000 đồng theo biên lai thu số 17869 ngày 05-01-2016 và 2.125.000 theo biên lai thu số 18613 ngày 09-5-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Tiền Giang, bà R còn phải nộp ti p số tiền 31.414.095 đồng.

- Ông Trần Hoàng G phải chịu 38.014.095 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông G đã nộp theo biên lai thu số 19507 ngày 12/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Tiền Giang nên ông G phải nộp ti p 38.014.095 đồng.

- Ông Lưu Văn T không phải chịu án phí, hoàn lại cho ông T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông T đã nộp theo biên lai số 19508 ngày 12/11/2018 của Chi cục Thi Hnhà án dân sự huyện T, tỉnh Tiền Giang.

- Ông Nguyễn Ngọc P không phải chịu án phí, hoàn lại cho ông P 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông P đã nộp theo biên lai số 19505 ngày 08/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Kể từ ngày bản n có hiệu lực ph p luật (đối với trường hợp cơ quan Thi hành n có quyền chủ động ra quy t định thi hành án) và ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành n cho đ n hi thi hành ong tất cả c c hoản tiền, hàng tháng người phải thi hành n c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành theo mức lãi suất qui địnhà tại hoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi Hnhà án.

Trường hợp bản án, quyết địnhà được thi Hnhà theo quy địnhà tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy địnhà tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Án tuyên vào lúc 08 giờ ngày 18/4/2019, có m t bà R, ông G, anhà V, ông P, vắng m t ông T, chị K, bà H. Nơi nhàận:

Cỡ chữ