- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp lối đi chung"
- Tòa quyết gì? ; Điều 7; Điều 8 và Điều 46 của Bộ luật tố tụng dân sự năm
- Căn cứ chính? Luật đất đai năm
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 9/DS-ST Ngày 7/ 9 “V/v Tranh chấp lối đi chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Quân.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thi và ông Lưu Ngọc Khoa.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Ngư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T Đ, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T Đ, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Văn – Kiểm sát viên.
Ngày 7 tháng năm
9 tại Phòng xét xử của Tòa án nhân dân huyện T Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
/ TLST - DS ngày tháng 9 năm
8 về việc: “Tranh chấp lối đi chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
9/QĐXXST – DS ngày 8 tháng năm 9 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 964; Địa chỉ: Thông T B,xã Đ N, huyện T Đ, Đắk Nông – Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Ông Nguyễn Công S, sinh năm 965; Địa chỉ: Thông T B,xã Đ N, huyện T Đ, Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Bùi Thị H, sinh năm 964 Địa chỉ: Thông T B,xã Đ N, huyện T Đ, Đắk Nông – Có mặt tại phiên tòa.
+ Ông Trần Đức V, sinh năm 97 và Lê Thị Ngh, sinh năm 97 ; địa chỉ: Thông T B,xã Đ N, huyện T Đ, Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày tháng năm 2 , lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Văn H trình bày:
Năm
9 ông Lê Văn H mua phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số BO 9 59 do UBND huyện T Đ cấp ngày 4 của ông Nguyễn Công S, khi mua ông S bán cả phần con đường đang tranh chấp hiện nay để ông H làm lối đi vào đất của mình. Sau khi, mua ông H sử dụng phần đất hiện đang tranh chấp làm đường đi lên rẫy mua của ông S. Đến tháng 7 năm
toàn bộ đất rẫy khu vực ông H, ông S và ông V được UBND huyện T Đ đo đạc dải thửa và cấp giấy CNQSDĐ theo thực tế các bên sử dụng, phần đất con đường ông H mua của ông S được dải thửa thành con đường đi chung, ông H vẫn sử dụng con đường này để lên rẫy của mình.
Đến tháng 5 năm
8 ông S lấy lý do con đường đang tranh chấp là của ông S rồi rào lại và trồng cây lên con đường không cho ông H sử dụng để đi vào rẫy. Ông H đã yêu cầu UBNDxã Đ N giải quyết nhưng không thành vì vậy ông H khởi kiện ra tòa án giải quyết buộc ông S phải tháo dỡ hàng rào và di dời cây trồng trên đất để trả lại con đường đi diện tích đất ,8m x m có tứ cận phía Đông giáp đường thôn, phía Tây giáp đất của ông H 2,8m, phía Nam giáp đất ông V 23m, phía Bắc giáp đất ông S 23m. Sau khi xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện diện tích đất ông S lần chiếm con đường là lối đi chung là 5 m nên ông H yêu cầu ông S phải trả lại phần diện tích đất là lối đi chung này mà ông S đã lấn chiếm; trong kết quả cũng thể hiện ông V và bà Ng lần chiếm diệm tích đất lối đi chung là 6,6 m nhưng ông H chỉ làm đơn khởi kiện ông S phải trả lại; còn đối với diện tích đất lối đi chung ông V lấn chiếm ông H không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại vườn cây trong quá trình giải quyết ông H rút yêu cầu.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn đơn ông Nguyễn Công S trình bày:
Ông S thừa nhận có bán rẫy cho ông H, có ngăn cản ông H sử dụng con đường như ông H trình bày. Tuy nhiên, ông S cho rằng ông S không bán cho ông H con đường đi đang tranh chấp mà chỉ cho ông H đi nhờ Phần đất tranh chấp là con đường đi chung diện tích đất ,86m x 23m là của ông S cho ông H đi nhờ. Quá trình giải quyết vụ án ông S đã di dời cây trồng trên con đường đang tranh chấp để ông H tiếp tục đi nhờ. Tại hiện trường khi xem xét thẩm định tại chỗ ông S và ông V cùng thừa nhận đất ông S và ông V giáp nhau và không có con đường đi chung nào, ông S và ông V cùng chôn hàng cột bê tông để phân chia ranh giới và không đồng ý tháo dỡ. Tại buổi công khai chứng cứ và hòa giải ông S đã đồng ý trả lại toàn bộ diện tích đất con đường đi chung theo bản đồ dải thửa khi cấp giấy CNQSD đất cho ông S và theo kết quả đo đạc. Khi ông V thay đổi nội dung hòa giải thành thì ông S vẫn giữ nguyên quan điểm trả lại con đường đi chung như trong biên bản hòa giải thành ngày 6 7 9 và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông S.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Trần Đức V cho rằng đất ông S và ông V giáp nhau và không có con đường đi chung nào, ông V thừa nhận ông S và ông V cùng chôn hàng cột bê tông để phân chia ranh giới đất hai bên, ông V nhận phần đất từ hàng cột bê tông trở lại đất của ông V là của ông V và không đồng ý tháo dỡ. Tại buổi công khai chứng cứ và hòa giải ông V đã đồng ý trả lại con đường đi chung theo bản đồ dải thửa và theo sơ đồ đo đạc của cơ quan chuyên môn. Tuy nhiên, sau khi lập biên bản hòa giải thành ông V bà Ng thay đổi nội dung hòa giải thành ngày 6 7 9 trong thời hạn 7 ngày, ông V bà Ng không đồng ý tháo dỡ hàng cột bê tông trên con đường đang tranh chấp, không đồng ý trả lại con đường đi chung.
Bà Lê Thị Ngh (vợ ông V) đồng ý với ý kiến của ông V, không có ý kiến yêu cầu gì thêm.
Bà Bùi Thị H (vợ ông H) đồng ý với ý kiến của ông H, không có ý kiến yêu cầu gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án TAND huyện T Đ đã tiến hành thuê Chi nhánh Văn phòng ĐKQSDĐ huyện T Đ tiến hành đo đạc theo sự chỉ ranh mốc của các đương sự, sau đó lồng ghép vào bản đổ dải thửa và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các bên được cấp. Kết quả diện tích đất lối đi chung bị lần chiếm là 66, m2, có tứ cận phía Đông giáp đường thôn ,86, phía Tây giáp đất của ông H ,86m, phía Nam giáp đất ông V m, phía Bắc giáp đất ông S 23m. Trong đó phần đất ông S nhận của ông S là 50 m , phần đất ông V nhận của ông V là 16,1 m . Phần đất tranh chấp này là con đường đi chung không nằm trong phần đất đã cấp giấy CNQSDĐ của ông H, ông S và ông V.
Phần tranh luận tại phiên tòa Hàn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông S trả lại diện tích đất là lói đi chung là 50 m , còn đối với diện tích đất ông V và bà Ng lần chiếm diện tích đất con đường là lối đi chung thì ông H sẽ khởi kiện trong vụ án khác theo kết quả đo vẽ bổ sung gì thêm. Đối với thiệt hại vườn cây nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu này. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa vắng mặt không có lý do;
Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị H đồng ý với lời trình bày của ông H không bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức phát biểu quan điểm về trình tự thủ tục tố tụng và hướng xử lý vụ án:
Thẩm phán chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, thiết lập hồ sơ và thu thập chứng cứ đúng trình tự. Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đúng nguyên tắc, người tham gia tố tụng chấp hành quy định của pháp luật.
Do có căn cứ chứng minh phần đất tranh chấp là con đường đi chung, không nằm trong phần đất đã cấp giấy CNQSD đất cho ai. Do có căn cứ chứng minh phần đất tranh chấp là con đường đi chung đã được hình thành từ tháng 7 năm
khi các bên được cấp giấy CNQSD đất. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 9 Điều 6; điểm a khoản Điều 5; điểm a,c khoản Điều 9; Điều 47; Điều 7 và Điều 8 - Bộ luật tố tụng dân sự năm
5; Điều 45; Điều 46 và Điều 47 – Bộ luật dân sự năm 5; Điều
Luật đất đai năm
. Nghị quyết số 6 6 UBTVQH 4 ngày
6 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H đối với ông Nguyễn Công S và Buộc ông Nguyễn Văn Sứ phải trả lại 5 m lấn chiếm trên con đường đi chung. Đối với thiệt hại vường cây nguyên đơn rút nên cần đình chỉ giải quyết. Buộc ông S phải phải trả tiền chi phí tố tụng cho nguyên đơn và chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện Toà án đã triệu tập các đương sự trong vụ án lên làm rõ nội dung tranh chấp, tống đạt các thủ tục tố tụng, tiến hành lấy lời khai, đối chất, công khai chứng cứ và hoà giải giữa các đương sự theo quy định. Các bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Toà án ban hành quyết định đưa ra xét xử theo đúng thủ tục tố tụng; và đã tống đạt cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Tòa án đã quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản Điều 7 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản Điều 8 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, diện tích đất con đường là lối đi chung tọa lạc tại huyện T Đ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T Đ theo quy định tại điểm a khoản Điều 5; Điều 9 – Bộ luật TTDS. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã áp dụng đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.
* Về quan hệ pháp luật và nội dung tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Công S trả lại 5 m đất lấn chiếm trên con đường đi chung Tòa án đã tiến hành thụ lý giải quyết yêu cầu của ông H, Vì vậy vụ án này là quan hệ pháp luật “Tranh chấp lối đi chung” theo quy định tại khoản 9 Điều 6 của Bộ luật tố tụng dân sự; còn đối với bồi thường thiệt hại vườn cây nguyên đơn rút nên cần đình chỉ yêu cầu này.
* Về nội dung tranh chấp là con đường đi chung có tứ cận phía Đông giáp đường thôn ,86m, phía Tây giáp đất của ông H ,86m, phía Nam giáp đất ông V m, phía Bắc giáp đất ông S 23m. Tổng diện tích tranh chấp mà ông S lần chiếm là 65.78 m , đất Tọa lạc tại Thông T B,xã Đ N, huyện T Đ. Trong quá trình giải quyết thì Nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu chỉ yêu cầu ông Nguyễn Công S trả lại diện tích đất lần chiếm là lối đi chung là 5 m theo kết quả đo vẽ của Chinh nhánh văn phòng đăng ký đất đại Tuy Đức. Tòa án đã tiền hành hòa giải và bị đơn đồng ý trả lại diện tích đất là lối đi chung nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý nên Tòa án mới ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Còn đối với bồi thường thiệt hại vườn cây nguyên đơn rút nên cần đình chỉ yêu cầu này.
Nhận định của Hội đồng xét xử:
Về nguồn gốc con đường đi chung đã được đo vẽ thể hiện trên tờ bản đồ địa chính số 7 đo đạc vào năm
và diện tích đất các hộ dân cũng đã được cấp GCN QSD đất theo tờ bản đồ này.
Trên tờ bản đồ thể hiện con đường là lối đi chung nhưng đã bị ông Nguyễn Công S lần chiếm làm cho gia đình ông H và Hà không có lối đi nên ông H mới làm đơn yêu cầu ông S trả lại diện tích đất là lối đi chung; con đường này đã được đo vẽ dải thửa là đường đi chung từ năm
, không nằm trong giấy CNQSDĐ của ai, không cấp cho ai.
[ ] Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã làm đơn yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất con đường là lối đi chung; các đương sự đã chỉ ranh giới mốc, lồng ghép trên giấy chứng nhận mà cá đương sự đã được cấp GCN QSD đất thể hiện. Thể hiện phần diện tích đất con đường là lối đi chung bị ông Nguyễn Công S lần chiếm là 5 m , còn hộ ông V bà Ng lần chiếm là 6, m ông H chỉ khởi kiện ông Nguyễn Công S trả lại diện tích đất mà ông S đã lần chiếm là diện tích đất lối đi chung này nên Tòa án chỉ xem xét giải quyết theo phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết;
. Trong quá trình công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự thì bị đơn ông Nguyễn Công S đồng ý trả lại toàn bộ diện tích đất lấn chiếm này theo kết quả đo vẽ của Chi Nhánh văn phòng đăng ký đất đai T Đ nhưng người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý nên Tòa án không thể bản hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Tuy nhiện, phía bị đơn vẫn bảo lưu quan điểm là trả lại diện tích đất con đường là lối đi chung này theo một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên HĐXX cần ghi nhận và buộc bị đơn phải trả lại diện tích đất mà bị đơn đã lấn chiếm là lối đi chung với diện tích đất là 5 m
4 . Đối với diện tích đất con đường là lối đi chung mà hộ ông V và bà Ng lần chiếm là 6, m . Trong quá trình giải quyết ông H không làm đơn yêu cầu ông V bà Ng trả lại diện tích đất lần chiếm này nên HĐXX không xem xét giải quyết và ông H có quyền khởi kiện trong vụ án khác;
5 . Còn đối với bồi thường thiệt hại vườn cây nguyên đơn rút nên HĐXX cần đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.
6 Về chi phí tố tụng: Chi phí xém xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá, chi phí đo đạc tổng cộng là 4. . đồng, ông H đã nộp số tiền này và yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật. Do yêu cầu của ông H được chấp nhận nên cần buộc ông S phải chịu toàn bộ Chi phí xém xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc tổng cộng là 4. . đồng số tiền này ông H đã nộp nên buộc ông S trả lại cho ông H;
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa là phù hợp với nội dung vụ án, quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên HĐXX xét thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H; buộc ông Nguyễn Công S phải trả lại diện tích đất lần chiếm là 50 m .
[7 Về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và trả lại chi phí tố tụng cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trê;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 9 Điều 6; điểm a khoản Điều 5; Điều 9; Điều 47; điểm c khoản Điều
; Điều 7; Điều 8 và Điều 46 của Bộ luật tố tụng dân sự năm
5; Điều 45; Điều 46 và Điều 47 – Bộ luật dân sự năm
5; Điều
Luật đất đai năm
. Nghị quyết số 6 6 UBTVQH 4 ngày
6 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H.
. Buộc ông Nguyễn Công S phải trả lại diện tích đất lần chiếm con đường đi chung với diện tích 50 m có tứ cận như sau:
Phía Đông giáp đường thôn là 1,4 m;
Phía Tây giáp đất của ông H ,86 m,
Phía Nam giáp đất ông V 23m,
Phía Bắc giáp đất ông S 23m.,
Đất tọa lạc tại tại Thông T B,xã Đ N, huyện T Đ, Đắk Nông theo bản đồ địa chính số 7 đo đạc vào năm
( kèm theo sơ đồ đo đạc ngày /6/2 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T Đ)
. Đình chỉ xet xử đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại vườn cây do nguyên đơn rút yêu cầu.
. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ(đo đạc) và định giá với số tiền là 4. . đồng (Bốn triệu đồng). Buộc ông Nguyễn Công S phải trả số tiền 4. . đồng (Bốn triệu đồng) cho ông Lê Văn H.
4. Về án dân sự sơ thẩm là
. đồng ( Ba trăm nghìn đồng). Buộc ông Nguyễn Công S phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Công S là
. đồng ( Ba trăm nghìn đồng).
Trả lại cho ông Lê Văn H số tiền là . đồng ( Ba trăm nghìn đồng) tiềm tạm ứng án phí mà ông H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 4565 ngày 13 tháng 9 năm
8 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện T Đ, tỉnhĐăk Nông.
Nguyên đơn và người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan ( bà H) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Nông; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Tuy Đức; - Chi cục THADS huyện T Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phạm Văn Quân |