- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bà D khởi kiện yêu cầu anh B bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị D, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 30/2018/DS-ST, ngày 15/11/2018, của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2019/DS-PT Ngày: 20/3 /2019 V/v: Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. |
NHÂNDANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Thẩm phán:
Bà Ngô Thị Hà
Bà Lê Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Ông Đỗ Văn Hậu - Kiểm sát viên, tham gia phiên toà.
Ngày 20 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số: 81/2018/TLPT-DS ngày 28/12/2018 về tranh chấp: “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 30/2018/DS-ST, ngày 15/11/2018 của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 13/2019/QĐPT-DS, ngày 11 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị D – Sinh năm 1939 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã C, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Việt B – Sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã C, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/5/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Mai Thị D trình bày:
Vào hồi 8 giờ ngày 01/02/2018, bà và chồng là ông Nguyễn Văn T đi nhổ mạ ở ngoài đồng. Vì bò nhà bà ăn mạ nhà ông Nguyễn Văn A và bà Trịnh Thị H ở cùng thôn nên ông A và bà H chửi vợ chồng bà D ông T và bắt đền mạ. Bà D đã xin đền mạ cho nhà ông A và bà H nhưng ông A bà H không đồng ý. Ông A và ông T có lời qua tiếng lại chửi lẫn nhau nên ông A đã xông vào định đánh ông T. Sau đó ông A gọi điện cho hai người con trai là anh Nguyễn Việt B và anh Nguyễn Văn C đến. anh B xông vào đánh ông T thì ông T bỏ chạy. Bà D lại van xin nhưng anh B nói văng tục rồi đấm vào ngực bà D làm bà khó thở nên nằm bất tỉnh. Một lúc sau ông T quay lại cùng bà Hồng và ông Thảo cùng thôn đến đưa bà D về nhà. Cùng ngày gia đình báo cáo công an xã sau đó đưa bà D đi Bệnh viện đa khoa huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa điều trị từ ngày 01/02/2018 đến ngày 12/02/2018 ra viện. Khi về nhà 02 ngày nhưng thấy khó thở nên ngày 14/02/2018 gia đình đưa bà D điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, đến ngày 19/02/2018 ra viện nhưng lại làm thủ tục nhập viện luôn và điều trị tiếp đến ngày 23/02/2018 thì ra viện. Do sức khỏe chưa ổn định, sau khi xuất viện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, cùng ngày bà D quay về nhập viện tại Bệnh viện đa khoa huyện Hà Trung điều trị đến ngày 08/3/2018.
Thời gian nhập viện để điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Hà Trung từ ngày 01/02/2018 cho đến ngày 12/02/2018. Thời gian này bà D đã chi phí các khoản sau: Tiền viện phí và tiền thuốc 5.785.000đ; Tiền thuê xe đi từ nhà đến Bệnh viện đa khoa huyện Hà Trung 02 lần x 100.000đ = 200.000đ; Tiền thu nhập thực tế của ông T bị mất là 12 ngày x 200.000đ/ngày = 2.400.000đ. Tiền mất thu nhập của bà D trong 12 ngày x 250.000đ/ngày = 3.000.000đ.
Thời gian điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa bà D đã chi phí các khoản tiền sau: Tiền viện phí hai lần là 353.295đ + 726.795đ = 1.080.000đ. Tiền thuê xe từ nhà đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa là 02 lần mỗi lần 350.000đ = 700.000đ; Tiền thu nhập thực tế của chồng bà bị mất là 11 ngày (từ ngày 13/02 đến 23/02/2018) x 200.000đ = 2.200.000đ. Tiền mất thu nhập của bà D 11 ngày x 250.000đ/ngày = 2.750.000đ.
Điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Hà Trung đợt hai từ ngày 23/02/2018 đến ngày 08/3/2018. Tại đây bà D đã chi phí những khoản sau: Tiền làm thủ tục nhập viện trong đó có tiền xét nghiệm, tiền mua sổ bệnh án, tiền mua thuốc ngoài quầy thuốc tư nhân và tiền viện phí là 4.134.000đ; Tiền thu nhập thực tế của chồng bà bị mất là 13 ngày x 200.000đ/ngày = 2.600.000đ. Tiền thuê xe từ Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa về Bệnh viện đa khoa huyện Hà Trung là 300.000đ; Tiền thuê xe từ Bệnh viện đa khoa huyện Hà Trung về nhà là 100.000đ; Tiền mất thu nhập của bà là 13 ngày x 250.000đ/ ngày = 3.250.000đ.
Tiền thuốc trong thời gian bà điều trị tại nhà là 696.000đ.
Sau khi sự việc được chuyển lên Công an huyện Hậu Lộc điều tra và giải quyết, bà đi giám định sức khỏe với chi phí 2.000.000đ. Tổng các khoản trên là 31.195.000đ và tiền tổn thất tinh thần là 30.000.000đ. Tổng cộng là 61.195.000đ.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích củaTrung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên được tính theo phương pháp xác định tỉ lệ tổn thương cơ thể là 0% (không phần trăm).
Anh Nguyễn Việt B trình bày:
Khoảng 9 giờ ngày 01/02/2018 bò nhà ông T bà D ăn mạ của gia đình anh nên bố anh là ông Nguyễn Văn A dắt bò về xem bò nhà ai. Bà D xin lại bò. Cùng lúc đó ông T đang đứng ở dưới ruộng chạy lên chửi và cầm hai hòn đất tấn công bố anh và chửi bới xúc phạm bố anh và gia đình anh, bà D ôm ông A để ông T tấn công ông A. Khi hai bên cãi cọ xô xát, anh yêu cầu ông T xin lỗi ông A. Khi đó bà D thả ông A ra và ôm lấy ngang người anh B. Anh B có nói “gì thả cháu ra vì mắt cháu không thấy kẻo gì lại bảo cháu đánh gì”. Bà D không thả và đẩy anh B về phía làng. Anh B đứng ở đường bê tông không có phản ứng gì nhưng do bà D đứng ở bờ ruộng thấp hơn và bà D đi đôi ủng lội ruộng nên trơn trượt, mất đà ngồi bạch xuống bờ ruộng vuông góc với đường bê tông rồi nằm xuống. Bà D định ngồi dậy nhưng ông T nói bà D cứ nằm xuống có người đưa đi viện. Một lúc sau ông T về gọi trưởng thôn ra đưa về, sự việc sau đó bà D đi viện như thế nào anh không biết.
Nay bà D yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm anh không đồng ý vì: Anh không gây thiệt hại gì về sức khỏe đối với bà D; Việc bà D tự đi khám bệnh, tự đi giám định sức khỏe anh không có liên quan gì, không chấp nhận bất cứ yêu cầu gì về bồi thường đối với bà D.
Ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ngày 01/02/2018 tại khu cánh đồng Của, bò nhà ông có ăn một ít mạ của gia đình ông Nguyễn Văn A. Sau đó ông A phát hiện và định bắt bò của gia đình ông. Ông và bà D đang ở đám ruộng gần đó đi lại nói với ông A về việc sẽ đền mạ và yêu cầu ông A không dắt bò của gia đình ông đi. Sau đó hai bên sảy ra to tiếng chửi bới nhau. Ông A gọi cho các con là anh C và anh B ra xô xát chửi bới vợ chồng ông rồi anh B đấm vào ngực bà D làm bà D ngã ra rìa đường thôn nằm bất tỉnh. Sau đó ông gọi người nhà đưa về rồi đi viện Hà Trung từ ngày 01/02 đến 12/02/2018 ra viện về nhà. Hai hôm sau tiếp tục đi bệnh viện tỉnh Thanh Hóa điều trị từ 14/02 đến 23/02/2018 sau đó về Bệnh viện Hà Trung từ 23/02 đến 08/3/2018. Trong những ngày trên ông phải thu xếp công việc để chăm sóc cho bà D tổng, cộng 36 ngày. Vì vậy ông đề nghị anh B bồi thường số ngày công ông đã nghỉ để chăm sóc cho bà D là 36 ngày x 200.000đ/ngày = 7.200.000đ.
Tại bản án án dân sự sơ thẩm số 30/2018/DS-ST ngày 15/11/2018 của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc đã quyết định:
Áp dụng: Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm d khoản 1 Điều 40, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006. Điểm d khoản 1 Điều 12; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
* Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Bà Mai Thị D. Buộc anh Nguyễn Việt B phải bồi thường cho bà Mai Thị D số tiền 6.506.000đ (sáu triệu năm trăm linh sáu nghìn đồng).
* Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị D các khoản chi phí khác số tiền 54.689.000đ
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ bồi thường trong trường hợp anh B chậm thi hành án và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Sau khi xử sơ thẩm, ngày 20/11/2018 bà Mai Thị D kháng cáo với nội dung: đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại phần bồi thường thiệt hại và miễn phần án phí phúc thẩm cho bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.
- Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà D, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà D kháng cáo cho rằng án sơ thẩm tuyên bồi thường chưa tương xứng với thiệt hại mà anh B đã gây ra cho bà thì thấy rằng: việc bà và anh B có xô xát là có thật, tuy nhiên, theo kết luận của Bệnh viện bà bị chấn thương phần mềm, kết quả giám định thương tật 0%. Vì vậy, bà yêu cầu bồi thường 61.000.000đ là không có căn cứ. Vì bà chỉ xuất trình được Bệnh án điều trị tại Bệnh viện Hà Trung theo hóa đơn bà xuất trình là 2.896.000đ; giấy ra viện Bệnh viên Hà Trung không chỉ định điều trị gì thêm. Vì vậy, các hóa đơn bà xuất trình đi khám ở Bệnh viện đa khoa tỉnh và quay lại điều trị tại Bệnh viện Hà Trung, không có bệnh án điều trị nên không có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy cần giữ nguyên án sơ thẩm là phù hợp pháp luật.
Án phí: bà D được miễn nộp theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm d Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
1/ Không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị D, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 30/2018/DS-ST, ngày 15/11/2018, của Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc.
2/ Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà D không phải nộp.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND huyện Hậu Lộc; - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (đã ký) Nguyễn Thị Nga |