vanban.org

Bản án 22/2018/LĐ-PT — Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương...

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 21/11/2018 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... — án lao động — "Nguyễn Đức K - Viện nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc Bản án số:22 /2018/LĐ-PT Ngày 21-11 – 2018 V/v “T.C về đòi tiền lương”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Ông Nguyễn Vũ Đông

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà- cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Ngô Thị Huyền Phương- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 21 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2018/TLPT- LĐ ngày 21 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp về đòi tiền lương”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2018/LĐ-ST ngày 27/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12/2018/QĐ-PT ngày 02 tháng 10 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/QĐ-HPT ngày 18/10/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/QĐ-HPT ngày 30/10/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn : Anh Nguyễn Đức Khánh, sinh năm 1970; Có mặt.

Địa chỉ: Số 7, Ngách 17/9, Tạ Quang Bửu, Bách Khoa, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Ngô Quang Thắng, Công ty TNHH DAVILAW; Có mặt.g Thắng, Công ty TNHH DAVILAW; Có mặt.

Bị đơn: Viện nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy Nông Nghiệp.

Trụ sở: Số 08, Trần Phú, Mộ Lao, Hà Đông, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình Tùng – Viện Trưởng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hoa, chức vụ: Phó Viện Trưởng ( Văn bản ủy quyền ngày 04/ 11 /2018), Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Lê Đức Thắng, Văn phòng luật sư Lê và Đồng sự.

Người kháng cáo: Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai nguyên đơn anh Nguyễn Đức Khánh trình bày:

Anh vào làm việc tại Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp từ ngày 10/10/2000 trên cơ sở HĐLĐ không xác định thời hạn. Quá trình vào làm việc tại Viện anh luôn chấp hành đúng quy định của Viện. Từ ngày 01/01/2016 cho đến hết ngày 31/12/2016 anh vẫn đi làm bình thường nhưng không được Viện trả lương mà không có lý do gì. Anh đã nhiều lần có đơn gửi đến Viện trưởng nhưng không được trả lời. Nay anh khởi kiện yêu cầu Viện phải trả lương cho anh thời gian một năm với số tiền là 57.384.800 đồng.

Bị đơn đại diện theo pháp luật và người đại diện hợp pháp của bị đơn Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp trình bày: Nhất trí với lời khai của anh Khánh về quá trình ký HĐLĐ và quá trình làm việc tại Viện. Từ tháng 9/2003 cho đến tháng 12/2016 anh Khánh là cán bộ chuyên trách của Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản với vị trí Phó trưởng ban rồi Trưởng ban. Quá trình thực hiện nhiệm vụ anh Khánh không hoàn thành nhiệm vụ căn cứ vào kết luận Thanh tra số 8222/KL-BCT ngày 05/9/2016 của Bộ Công Thương. Cuối năm 2016 bình xét thi đua anh Khánh không hoàn thành nhiệm vụ. Việc chi trả lương cho cán bộ công nhân viên phụ thuộc vào quỹ lương có từ hoạt động sản xuất kinh doanh và mức độ hoàn thành nhiệm vụ và căn cứ vào quy chế chi tiêu nội bộ của Viện. Tiền lương năm 2016 của anh Khánh đã được Viện duyệt chi nhưng theo kết luận Thanh tra số 8222/KL-BCT ngày 05/9/2016 của Bộ Công Thương thì “ không duyệt chi cho Ban quản lý dự án năm 2016 với số tiền 112.600.000 đồng”.

Theo Công văn số 4600/BCT-TTB ngày 11/6/2018 thì Bộ Công Thương xác định Viện không đủ nhân lực và chuyên môn để thành lập ban quản lý dự án nên không duyệt chi số tiền 112.600.000 đồng cho Ban quản lý dự án. Chính vì vậy Viện không trả lương cho anh Khánh. Nay anh Khánh khởi kiện đòi tiền lương Viện không đồng ý trả.

Tại bản án số 01 /2018/LĐ-ST ngày 27/ 7 /2018 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã xử và quyết định:

Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Đức Khánh đối với Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp.

Buộc Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán trả anh Nguyễn Đức Khánh 01 năm tiền lương ( từ 01/01/2016 đến hết 31/12/2016) của năm 2016 là 57.384.800 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa: Người đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và có quan điểm cho rằng việc Công ty không trả lương cho anh Khánh là do anh Khánh không hoàn thành nhiệm vụ.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Nguyên đơn và Luật sư của nguyên đơn đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án và đề xuất quan điểm giữ nguyên án sơ thẩm buộc Công ty phải trả lương cho người lao động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ,toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự và kiểm sát viên. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự có đủ cơ sở xác định:Từ tháng 9/2003 cho đến tháng 12/2016 anh Khánh là cán bộ chuyên trách của Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản với vị trí Phó trưởng ban rồi Trưởng ban. Năm 2016 anh Khánh được Viện giao làm trưởng ban quản lý dự án.

Theo cung cấp của Viện thì: Quá trình thực hiện nhiệm vụ anh Khánh không hoàn thành nhiệm vụ căn cứ vào kết luận Thanh tra số 8222/KL-BCT ngày 05/9/2016 của Bộ Công Thương. Cuối năm 2016 bình xét thi đua anh Khánh không hoàn thành nhiệm vụ. Việc chi trả lương cho cán bộ công nhân viên phụ thuộc vào quỹ lương có từ hoạt động sản xuất kinh doanh và mức độ hoàn thành nhiệm vụ và căn cứ vào quy chế chi tiêu nội bộ của Viện. Tiền lương năm 2016 của anh Khánh đã được Viện duyệt chi nhưng theo kết luận Thanh tra số 8222/KL-BCT ngày 05/9/2016 của Bộ Công Thương thì “ không duyệt chi cho Ban quản lý dự án năm 2016 với số tiền 112.600.000 đồng”.

Theo Công văn số 4600/BCT-TTB ngày 11/6/2018 thì Bộ Công Thương xác định Viện không đủ nhân lực và chuyên môn để thành lập ban quản lý dự án nên không duyệt chi số tiền 112.600.000 đồng cho Ban quản lý dự án. Chính vì vậy Viện không trả lương năm 2016 cho anh Khánh.

Như vậy trong năm 2016 anh Khánh vẫn làm việc tại Viện, tuy nhiên Viện lấy lý do anh Khánh không hoàn thành nhiệm vụ và lý do Viện không đủ nhân lực chuyên môn để thành lập Ban quản lý dự án để không chi trả lương cho anh Khánh.

Đối với lý do thứ nhất: Về việc không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật lao động cũng như các điều khoản của HĐLĐ giữa hai bên thì người lao động có làm việc cho Viện, Viện phải có trách nhiệm trả lương. Nếu người lao động không hoàn thành nhiệm vụ Viện phải có bình xét hàng tháng, phân loại để làm căn cứ trả lương cho người lao động theo kết quả hoàn thành công việc thì mới đúng. Trong trường hợp này Viện lại căn cứ vào kết luận Thanh Tra của Bộ Công Thương để khảng định anh Khánh không hoàn thành nhiệm vụ, từ đó không thanh toán cho anh Khánh toàn bộ tiền lương của năm 2016 là không đúng.

Đối với lý do thứ hai: Viện không đủ nhân lực chuyên môn để thành lập Ban quản lý dự án đây là trách nhiệm của Viện không phải là trách nhiệm của người lao động. Do vậy không thể lấy lý do này để không chi trả lương cho người lao động.

Quan điểm của đại diện VKS phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp. Cần bác kháng cáo của Viện, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Buộc Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp phải có trách nhiệm trả lương năm 2016 cho anh Khánh với số tiền là 57.384.800 đồng.

Về án phí: Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp phải chịu án phí LĐ/ST và án phí LĐ/PT.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 – Điều 308- BLTTDS. Điều 90,96 – Bộ Luật Lao Động.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp. Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 01/2018/LĐ-ST ngày 27/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông và xử như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức Khánh đối với Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp về việc đòi tiền lương năm 2016.

Buộc Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp phải thanh toán trả cho anh Nguyễn Đức Khánh tiền lương năm 2016 với số tiền là 57.384.800 đồng ( Năm bảy triệu, ba trăm tám tư nghìn tám trăm đồng chẵn).

Về án phí: Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp phải chịu 1.721.544 đồng án phí LĐ/ST và phải chịu 300.000 đồng án phí LĐ/PT được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp tại BL thu số AB/2015/0001749 Chi Cục THADS quận Hà Đông ngày 13/8/2018. Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp phải nộp tiếp 1.721.544 đồng ( một triệu bảy trăm hai mốt nghìn năm trăm bốn bốn đồng).

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi xuất nợ quá hạn do ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 21/11 /2018./.

Cỡ chữ