vanban.org

Bản án 22/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 30/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU
————
Bản án số: 22/2018/HSST
Ngày: 30/01/2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Ngọc Sáng

2. Ông Giàng A Lình

Thư ký phiên toà: bà Lâm Thị Tuyết, Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên toà: ông Bùi Tống Chung, kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2017/HSST, ngày 28 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Vàng Phì X – Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1982; sinh tại: xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: bản P, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: trồng trọt; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Vàng Xô P - sinh năm: 1955; Con bà: Mạ Hu X – đã chết ( mẹ kế Phản Mỳ G, sinh năm 1974; Bị cáo có vợ: Ly Mò M - sinh năm 1987; bị cáo có 3 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm: 2009. Tiền án, tiền sự: không, bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày18/10/2017 đến ngày 02/01/2018 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 15/10/2017, Vàng Phì X một mình bắt xe ôm từ nhà lên khu vực xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu với mục đích đi tìm công việc làm thuê. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày X đến khu vực xã T, X gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi đang ở trong lán nương, gặp người đàn ông này X hỏi làm thuê để lấy thuốc phiện về sử dụng, sau khi thỏa thuận xong, người đàn ông này đã thuê X gặt lúa. Đến ngày 18/10/2017 thì X làm xong, người đàn ông này trả công cho X 3 chỉ thuốc phiện, cùng lúc đó X hỏi mua thêm với người đàn ông này 02 chỉ thuốc phiện với số tiền 300.000đồng, mua bán xong người đàn ông bỏ đi, X lấy số thuộc phiện và bộ bàn đèn ra sử dụng ( hút) luôn tại đó một ít, trong lúc đang hút thuốc phiện thì nhận được tin báo của em trai là Vàng Và C báo tin con trai của X bị ốm, nghe điện thoại X bảo C đi xe máy lên đón X ở đường rẽ lên xã T. Điện thoại xong, X cất số thuốc phiện vào trong túi áo ngực rồi đi bộ về, đi đến khu vực bãi đá gần bản N, xã N thì gặp C đi đón, X và C đi đến bản N, xã N thì bị tổ công tác Công an huyện M phát hiện, bắt quả tang thu giữ trong người của X 02 gói chất nhựa dẻo, mầu nâu đen, có mùi hắc theo lời khai của X đó là thuốc phiện, ngoài ra còn thu giữ 01 chiếc điện thoại di động của X.

Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, đã xác định 02 gói chất nhựa dẻo, mầu nâu đen, có mùi hắc thu giữ của Vàng Phì X có khối lượng là 23,17 gam. Tại bản kết luận giám định số: 16/GĐ – KTHS, ngày 21/11/2017, của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận, mẫu chất dẻo mầu nâu đen, có mùi hắc thu giữ của Vàng Phì X là thuốc phiện, đây là chất ma túy nằm trong danh mục II, số thứ tự 117, Nghị định số: 82/2013/CP, ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ.

Tại Cáo trạng số: 01/KSĐT – MT, ngày 27 tháng12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Vàng Phì X về tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 điều 194 BLHS.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng Phì X phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 BLHS sửa đổi năm 2009, nay điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Vàng Phì Xá từ 1 năm 2 tháng tù đến 1 năm 6 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng khoản 5 Điều 194 BLHS năm 1999, nay là khoản 5 Điều 249 BLHS năm 2015 là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 41BLHS 1999, nay là Điều 47 BLHS năm 2015; khoản 2 Điều 76 BLTTHS năm 2003, nay là khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015, đề nghị tịch thu tiêu hủy 20,38 gam thuốc phiện còn lại sau giám định, Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo vì không liên quan đến vụ án.

Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 99 BLTTHS năm 2003, nay là Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/QH14, ngày 30/12/2016. Đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo vì bị cáo thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ.

Tại phiên tòa bị cáo Vàng Phì X khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nhất trí với luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận và không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Vàng Phì X đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với kết quả xác định khối lượng chất ma túy, kết quả giám định chất ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Vàng Phì X đã đủ yếu tố cấu thành tội" Tàng trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999, khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 có mức hình phạt tù từ hai năm đến bẩy năm. Do vậy, Cáo trạng số 01/KSĐT - MT, ngày 27 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố đối với bị cáo Vàng Phì X về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy' theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ Nghị quyết số: 41/2017/QH14, ngày 26/6/2017 về Thi hành Bộ luật hình sự 2015; Căn cứ vào Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì hành vi phạm tội của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, tại khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung có quy định mức hình phạt tù từ 1 năm tù đến 5 năm tù, đây là quy định mức hình phạt có lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét cần áp dụng Nghị quyết số: 41/2017/ QH14, ngày 26/6/2017 về Thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 và khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung và các quy định BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt đối với bị cáo.

[ 3 ] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng bị cáo Vàng Phì X là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc mua thuốc phiện về để sử dụng ( hút) là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện chất ma túy, muốn có thuốc phiện để sử dụng nên bị cáo đã đi làm công nhằm lấy thuốc phiện và mua thuốc phiện về tàng trữ sử dụng( hút) dần, do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999, khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 có mức hình phạt tù từ hai năm đến bẩy năm, được áp dụng mức hình phạt có lợi quy định khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng sấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tù, tương sứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

[ 4 ] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân, bị cáo Vàng Phì X có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, là người nghiện chất ma túy (thuốc phiện).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình hình sự bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng bị cáo Vàng Phì X luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nhận thức về pháp luật còn có những hạn chế nhất định, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cần được áp dụng cho bị cáo.

[ 5 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai bị cáo tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo Vàng Phì X, nghề nghiệp trồng trọt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này còn có một người đàn ông dân tộc Mông ở T đã thuê X làm công đã trả công và bán thuốc phiện cho X, nhưng Xá lại không biết họ tên địa chỉ cụ thể của người này nên không có cơ sở để điều tra, xử lý được đối với người này.

[ 6 ] Về vật chứng của vụ án, đối với 20,38 gam thuốc phiện còn lại sau giám định đây là chất cấm lưu hành cần phải tịch thu tiêu hủy, đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vietel V6314 mầu đen, viền đỏ thu giữ của Vàng Phì X không liên quan đến hành vi phạm tội cần phải trả lại cho bị cáo.

[ 7 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy các ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về xử lý bị cáo là có căn cứ, cần phải chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

1. Căn cứ vào Nghị quyết số: 41/2017/QH14, ngày 26/6/2017 về Thi hành Bộ luật hình sự số: 100/2015/QH13, khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 50, Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên bố bị cáo Vàng Phì X phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy", Xử phạt bị cáo Vàng Phì X 1 năm 2 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành hoặc bị bắt đi thi hành, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2017 đến ngày 02/01/2018 là 02 tháng 14 ngày.

3. Về Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 20,38 gam thuốc phiện còn lại sau giám định.

- Trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vietel V6314 mầu đen, viền đỏ số IMEL1: 359429069877296; Số IMEL2: 359429069877304;cho bị cáo Vàng Phì X.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ