vanban.org

Bản án 22/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Sơn T phạm tội cố ý gây thƣơng tích.

Xử phạt bị cáo Sơn T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2017. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sơn T cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Sơn T phạm tội cố ý gây thƣơng tích.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 104 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 22/2018/HS-ST
Ngày: 17-4-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Lƣợng.

Ông Đào Văn Nô.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Dung, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11 và 17 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Sơn T, sinh năm 1995 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký HKTT: Ấp số X, thị trấn HL, huyện TT, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn B và bà Danh Thị L; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị bắt tạm giam từ ngày 06/10/2017 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Huỳnh Huy H, sinh năm 1989; nơi đăng ký HKTT: Ấp ĐK, xã TKĐ, thành phố SĐ, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: Khu nhà Becamex, ấp ST, xã TB, huyện BTU, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Sơn B, sinh năm 1959; HKTT: Ấp số X, thị trấn HK, huyện TT, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.

2. Bà Lê Thị Kiều D, sinh năm 1988. nơi đăng ký HKTT: Phƣờng Y, thành phố CL, tỉnh ĐT; tạm trú: Khu nhà Becamex, ấp ST, xã TB, huyện BTU, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1990. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Bà Thị Cẩm T, sinh năm 1994. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bị cáo Sơn T và ông Huỳnh Huy H không quen biết và không có mâu thuẫn gì với nhau.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/4/2017, Sơn T cùng bạn tên Phong (không rõ nhân thân, lai lịch) đi đến phòng trọ của ông Huỳnh Văn L tại ấp 1, xã Vĩnh Tân, thị xã Tân Uyên để rủ ông L đi uống rƣợu, bia. Khi đến khu vực nhà trọ nơi ông L ở, T nhìn thấy ông L và ông Huỳnh Huy H đang ngồi uống bia cùng với một số ngƣời bạn (không rõ tên) tại kiốt đối diện với khu nhà trọ nơi ông L thuê để ở, nên T bảo Phong dừng xe lại cách vị trí ông L khoảng 05 mét để T có gọi ông L đi ra ngoài. Khi nghe T gọi thì ông L đi ra vị trí của T và Phong đang đứng, lúc này T có rủ ông L đi uống rƣợu bia nhƣng L từ chối vì đang uống bia cùng các bạn nên T và L đứng nói chuyện với nhau. Khoảng 05 phút sau, ông H đi từ trong kiốt ra và đi qua bên lề trái đƣờng để đi vệ sinh, sau khi đi vệ sinh xong ông H đi lại vị trí ông L và T đang đứng nói chuyện, lúc này ông H hỏi ông L “Có chuyện gì vậy” nhƣng ông L không trả lời nên ông H đi lại vị trí bà Thị Cẩm T - là vợ ông L đang bế con nhỏ cách ông L và T khoảng 02 mét để bế con của ông L. Lúc này, T nhìn thấy và không thích cách nói chuyện của ông H nên T nảy sinh ý định gây thƣơng tích cho ông H. Thực hiện ý định của mình, T lấy con dao lƣỡi bằng kim loại (loại dao Thái Lan do T thƣờng mang theo để rạch bao bì khi làm việc) dài khoảng 20 cm T để sẵn ở phía sau xe môtô của Phong cạnh nơi T đang đứng rồi đi lại vị trí ông H đang đứng cách T khoảng 0,5 mét và T dùng tay trái đẩy vai ông H, khi ông H quay ngƣời lại đối diện với Tuấn, lúc này T dùng con dao đang cầm trên tay phải đâm vào ngƣời ông H một cái thứ nhất nhƣng không trúng vào ngƣời ông H, T tiếp tục dùng dao đâm ông H thêm một cái thứ hai trúng vào vùng bụng của ông H gây thƣơng tích. Sau đó, T chạy lại vị trí Phong đang ngồi trên xe môtô và kêu Phong chở chạy đi. ông H đƣợc mọi ngƣời xung quanh đƣa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dƣơng.

Ngày 15/11/2017, ông H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án và giám định thƣơng tích gửi đến Công an xã Vĩnh Tân, sau khi tiếp nhận tin báo Công an xã Vĩnh Tân lập hồ sơ và chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Bình Dƣơng thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Tại giấy chứng nhận thƣơng tích ngày 19/4/2017, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dƣơng ghi nhận thƣơng tích của Huỳnh Huy H nhƣ sau: Shock – Vết thƣơng thấu bụng, thủng gan, dạ dày, tá tràng, thận phải.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 283/2017/GĐPY ngày 01/9/2017 kết luận: ông Huỳnh Huy H thƣơng tích hiện tại: Vết thƣơng hạ sƣờn phải 10 x 0,1 cm, sẹo lành; Vết thƣơng bụng phải 1,8 x 0,1 cm, thấu bụng lòi mạc nối, thủng gan, dạ dày, tá tràng, thận phải đã phẫu thuật khâu các vết thủng, sẹo mổ đƣờng giữa bụng đã lành. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 75% (bảy mƣơi lăm phần trăm).

Bản Cáo trạng số 18/QĐ-KSĐT ngày 22/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố Sơn T về tội cố ý gây thƣơng tích theo Khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa:

Bị cáo trình bày: Khoảng 20 giờ ngày 04/4/2017, bị cáo rủ Phong là bạn cùng dãy trọ đến rủ ông L đi uống rƣợu bia, khi bị cáo đang nói chuyện, rủ ông L đi uống rƣợu bia thì ông H đi đến, bị cáo thấy không vừa ý với cách nói chuyện của ông H nên sử dụng dao để đâm ông H 02 nhát, nhát đầu tiên không trúng, nhát thứ hai gây ra thƣơng tích đúng nhƣ ghi trên giấy chứng nhận thƣơng tích của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dƣơng. Sau khi gây thƣơng tích cho ông H, bị cáo chạy ra xe cho Phong chở về phòng trọ, trên đƣờng đi bị cáo ném xuống đƣờng cống thoát nƣớc của Khu công nghiệp VSIP II. Bị cáo bỏ trốn về quê đến ngày 06/10/2017 đƣợc gia đình tác động nên đến công an thị trấn HL, huyện TT, tỉnh Sóc Trăng để đầu thú.

Ngƣời bị hại, ông Huỳnh Huy H trình bày: Giữa ông H và bị cáo không quen biết, không có mâu thuẫn gì với nhau. Khoảng 20 giờ 30 ngày 04/4/2017, ông H cùng với ông L nhậu tại kios của bà Xuyến thì thấy bị cáo và một ngƣời thanh niên nữa điều khiển xe mô tô đi đến gọi ông L ra nói chuyện. Một lúc sau, ông H ra ngoài đi vệ sinh và xin thuốc lá của ông L để hút và có hỏi ông L “có chuyện gì không”, ông L trả lời “không có gì” sau đó ông H quay qua phía bà Tú là vợ ông L định bế con của ông L thì bất ngờ bị bị cáo dùng dao đâm vào hông phía bên phải làm ông H gục xuống đƣờng sau đó đƣợc mọi ngƣời đƣa đi cấp cứu, còn bị cáo và ngƣời thanh niên kia lên xe tẩu thoát. ông H phải điều trị mất 03 tháng thu nhập; bà Hiền là vợ ông H phải nghỉ việc 01 tháng để chăm sóc cho ông H. Sau khi xảy ra sự việc, gia đình bị cáo đã bồi thƣờng cho ông H đƣợc số tiền 15.000.000 đồng. ông H yêu cầu bị cáo bồi thƣờng số tiền 95.136.000 đồng (bao gồm: Tiền thuốc, viện phí 18.986.000đồng; tiền thuê xe đi khám 1.650.000 đồng; tiền ngày công bị mất 5.000.000 đồng x 03 tháng = 15.000.000 đồng; tiền ngày công ngƣời chăm sóc 7.500.000 đồng; tổn thất tinh thần 1.300.000đồng x 40 tháng = 52.000.000 đồng) trừ đi số tiền 15.000.000 đồng cha của bị cáo đã bồi thƣờng, còn lại là 80.136.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Sơn B trình bày: Số tiền 15.000.000 đồng đã giao cho ông H là do ông tự động bồi thƣờng thay cho bị cáo tiền thuốc, chữa trị cho ông H, bị cáo không tác động để ông bồi thƣờng cho ông H. Ông B không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền này, ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố nhƣ nội dung Cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm p Khoản 1; Khoản 2 Điều 46; điểm d khoản 1 Điều 48; Khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt Sơn T mức hình phạt từ 08 năm tù đến 09 năm tù. Buộc bị cáo bồi thƣờng cho ngƣời bị hại số tiền 80.136.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

1. Về tố tụng: Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố về tội cố ý gây thƣơng tích theo Khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên thụ lý là đúng thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng không ai khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan và ngƣời tiến hành tố tụng. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm chứng có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định tại các điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thống nhất thừa nhận hành vi vô cớ dùng dao Thái Lan – là hung khí nguy hiểm để đâm, gây thƣơng tích cho ông Huỳnh Huy H với tỷ lệ tổn thƣơng là 75%. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời làm chứng, giấy chứng nhận thƣơng tích và kết luận giám định; Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Vào hồi 20 giờ 30 ngày 04/4/2017 bị cáo Sơn T dùng dao (loại dao Thái Lan) gây thƣơng tích cho ông Huỳnh Huy H với tỷ lệ tổn thƣơng là 75%.

3. Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện các hành vi nêu trên, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy trƣớc hậu quả sẽ gây ra thƣơng tích cho ông H nhƣng vì thù tức nên mong muốn gây ra thƣơng tích cho ngƣời bị hại. Do đó, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.

Từ những nhận xét nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi sử dụng dao là hung khí nguy hiểm đâm, gây thƣơng tích cho ngƣời bị hại với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể 75% đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thƣơng tích quy định tại Khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của ngƣời khác, làm mất an ninh, trật tự tại địa phƣơng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hiện nay tình hình an ninh, trật tự, đặc biệt là cách hành xử côn đồ, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà sẵn sàng gây thƣơng tích cho ngƣời khác của một bộ phận thanh niên trong xã hội đang xảy ra ngày càng nhiều và nghiêm trọng. Vì vậy, việc truy tố và đƣa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và răn đe các đối tƣợng khác.

Đối với đối tƣợng tên Phong, quá trình điều tra đến nay chƣa xác định đƣợc nhân thân thân lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.

4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Giữa bị cáo và ông H không hề quen biết, không có bất kì mâu thuẫn gì, bị cáo vô cớ gây thƣơng tích cho ông H thể hiện sự manh động, côn đồ, hung hăng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.

5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi bỏ trốn đã đến cơ quan chức năng đầu thú; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có giấy chứng nhận hộ nghèo; cha bị cáo đã bồi thƣờng cho ngƣời bị hại một phần thiệt hại nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p Khoản 1; Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nên đƣợc chấp nhận.

6. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi bị bị cáo gây thƣơng tích, ông H phải nhập viện cấp cứu và điều trị vết thƣơng. Quá trình điều tra, cha của bị cáo là ông Sơn B đã tự nguyện bồi thƣờng cho ông H số tiền 15.000.000 đồng. Tại phiên tòa, ông Huỳnh Huy H yêu cầu bị cáo bồi thƣờng tổng số tiền là 95.136.000 đồng, (bao gồm: Tiền thuốc, viện phí 18.986.000đồng; tiền thuê xe đi khám 1.650.000 đồng; tiền ngày công bị mất 5.000.000 đồng x 03 tháng = 15.000.000 đồng; tiền ngày công ngƣời chăm sóc 7.500.000 đồng; tổn thất tinh thần 1.300.000đồng x 40 tháng = 52.000.000 đồng) trừ đi số tiền 15.000.000 đồng cha của bị cáo đã bồi thƣờng, còn lại là 80.136.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho ông H số tiền này. Xét thấy, yêu cầu của ông Huỳnh Huy H phù hợp với quy định tại các điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên buộc bị cáo phải bồi thƣờng cho ông H số tiền 80.136.000 đồng.

Đối với số tiền đã bồi thƣờng cho ông H thay bị cáo, ông Sơn B không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả nên không xem xét.

7. Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Con dao bị cáo sử dụng để gây thƣơng tích cho ngƣời bị hại, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã tổ chức truy tìm nhƣng không có kết quả nên không có cơ sở để xem xét, xử lý.

8. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có nghĩa vụ bồi thƣờng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Sơn T phạm tội cố ý gây thƣơng tích.

Áp dụng Khoản 3 Điều 104; điểm p Khoản 1; Khoản 2 Điều 46; điểm d Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Sơn T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Sơn T phải bồi thƣờng cho ông Huỳnh Huy H số tiền 80.136.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ngƣời bị hại có yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bị cáo chậm thi hành thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội:

Bị cáo Sơn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.006.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ