vanban.org

Bản án 22/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 05/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn B phạm tội téi "Cè ý g©y th ¬ng tÝch".

Áp dụng: Khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt : Vi Văn Bun 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Thời hạn thi hành án tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn B, cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn B phạm tội téi "Cè ý g©y th ¬ng tÝch".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG LÁT
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2018/HS-ST
Ngày: 05/7/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG LÁT, TỈNH THANH HÓA

Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa ông: Quách Văn T.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông : Hoàng Văn H

2. Bà : Lê Thị Th

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lâu Văn C - Thư ký, Tòa án nhân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: ông Hà Văn C - Kiểm sát viên sơ cấp.

Hôm nay, ngày 05 tháng 07 năm 2018 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Mường L, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2018/TLST - HS ngày 31 tháng 05 năm2018, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 23/HSST- QĐ, ngày 22 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vi Văn B - sinh năm 1952; Nơi sinh: Bản X, xã Quang Ch, huyện Mường L, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản X, xã Quang Ch, huyện Mường L, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Con ông Vi Văn P (đã chết) và bà Vi Thị Ư (đã chết); có vợ Lương Thị Ă, sinh năm 1956; vợ chồng có 03 con lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ 23 tháng 02 năm 2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

1. Anh Thao Va P - Sinh năm 1977; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản Pá H, xã Nhi S, huyện Mường L, tỉnh Thanh Hóa.

*Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc Kh, sinh năm 1979 ; nghề nghiệp: Trợ giúp viên pháp lý; Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18 tháng 11 năm 2017, Vi Văn B đi đến nhà anh Thao Va P, sinh năm 1977; trú tại: Bản Pá H, xã Nhi S, huyện Mường L, tinh thanh Hóa là người quen để lấy thuốc nam chữa bệnh đua khớp bán cho những người dân trong bản, lúc này trời đã tối bị cáo B xin nghỉ lại qua đêm và ăn cơm với gia đình. Khoảng 22 giờ cùng ngày vợ chồng anh P có lời qua tiếng lại với nhau về việc anh P nói chị Lâu Thị L(vợ) có quan hệ tình cảm với người khác trong thời gian anh P đi chấp hành án phạt tù và có cả bị cáo B. Nghe vậy bị cáo B đã giải thích với anh P là bản thân đã già yếu, không có quan hệ tình cảm với chị L.

Khoảng 4 giờ 30 phút ngày 19 tháng 11 năm 2017, vợ chồng lại tiếp tục cải nhau với lí do như trên chị L dậy xuống bếp nấu nước và đi ra ngoài. Lúc này anh P và bị cáo B có lời qua tiếng lại chửi bới, thách thức dẫn đến đánh nhau, anh p dùng tay đấm vào người B ngã xuống, B nhặt được 01(một) hoàn đá chèn cửa dài khoảng 15cm, có cạnh sắc nhọn đập liên tiếp 03 (ba) cái vào đầu P, P tiếp tục lao vào bị B ôm lấy người đẩy lên giường. Anh P kêu cứu có anh Hơ Văn Ch và chị Thao thị Mai D đến băng bó vết thương đưa đi bệnh viện huyện Mường L. Bị cáo Vi Văn B lấy đồ dùng cá nhân, tay cầm hoàn đá đi ra khỏi nhà đến khu vực bản Pá H, xã Nhi S, huyện Mường L ném hòn đá xuống suối rồi bỏ đi đến chiều cùng ngày Công an xã Nhi S yêu cầu đến trụ sở làm việc Vi Văn B đã khai nhận dùng đá đập vào đầu anh P.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 39/2018/TTPY, ngày 30 tháng 01năm 2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: 01 vết thương vùng gò má trái 3x3 cm, sâu sát xương,bờ mép sắc gọn; sẹo liền tốt: 15%; 01 vết thương sau gáy 2,5x 1cm, bờ mép sắc gọn; sẹo liền tốt: 8%; 01 vết thương trầy xước, sưng to kích thước 2x 1cm, bị bầm tím : 3%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể theo điều 4- thông tư 20/2014/TT-BYT, ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế là : 24% (Hai mươi tư phần trăm) sức khỏe.

*Về phần bồi thường dân sự: Theo báo cáo của người bị hại anh Thao Va P điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện Mường L và bệnh viện đa khoa tinh Thanh Hóa : 10( mười) ngày chi phí như sau:

Tiền thuê xe cấp cứu bệnh viện huyện Mường L: 500.000 đồng; tiền viện phí : 1.400.000 đồng; tiền ăn người chăm sóc: 2.430.000 đồng; Tiền xe đi bệnh viện tỉnh Thanh Hóa: 450.000 đồng; tiền thuê xe từ bệnh viện tỉnh Thanh Hóa về nhà: 3.000.000 đồng; tiền viện phí bệnh viện Thanh Hóa: 1.042.000 đồng; Tiền ăn người chăm sóc tại bệnh viện Thanh Hóa: 1.542.000 đồng; tiền mất thu nhập của người chăm sóc: 04 người x 10 ngày x 150.000đ/ngày: 6.000.000đồng; Tiền đi giám định (tiền xe + tiền ăn + tiền thuê phòng : 4.885.000 đồng; tiền bồi thường sức khỏe bị tổn thất : 70.000.000đ, tổng yêu cầu bị cáo Vi Văn B bồi thường là : 91.249.000 đồng (chín mươi mốt triệu hai trăm bốn chín nghìn đồng); trước khi xét xử bị cáo Vi Văn B đã bồi thường cho bị hại anh Thao Va P: 7.000.000đồng.

Tại cáo trạng số: 19/CT-VKS-ML ngày 29 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường L truy tố Vi Văn B “Cố ý gây thương tích”, theo khoản 2 điều 104 BLHS 1999. Nay khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự 2015, thực hiện theo nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự theo Nghị quyết số: 41/ 2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 và khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự 2015. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Vi Văn B.

Nên đề nghị Hội đồng xét xử :

+ Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Vi Văn B, phạm tội

„Cố ý gây thương tích”.

+ Áp dụng điều luật: Khoản 2 điều 104 Bộ luật hình sự 1999; nay là điểm a khoản1, khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

+ Về hình phạt: Đề nghị xử bị cáo Vi Văn B từ 26 tháng đến 30 thàng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 52 tháng đến 60 tháng.

+ Về bồi thường dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật cho người bị hại và miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn B nhận tội không thay đổi bổ sung gì thêm, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và lời nói cuối cùng của bị cáo xin lỗi người bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo một mức án thấp nhất để bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương trở thành công dân có ích cho gia đình , người thân và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường L, tỉnh Thanh Hóa, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường L, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Thư ký phiên tòa, trong qua trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn B, người bị hại anh Thao Va P không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ chứng minh có tội, không có tội của bị cáo: Tại phiên tòa , bị cáo Vi Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung mà Cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người bị hại và lời khai những người làm chứng, cùng chứng cứ khác có trong hồ sơ : Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biªn b¶n xem xÐt dÊu vÕt trªn th©n thÓ, biªn b¶n kh¸m th ¬ng ban ®Çu, bÖnh ¸n cña BÖnh viÖn §a khoa huyÖn Mường L, tØnh Thanh Ho¸, KÕt luËn gi¸m ®Þnh ph¸p y th ¬ng tÝch số 39/2018/TTPY, ngày 30 tháng 01năm 2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa. V× vËy cã ®ñ c¨n cø ®Ó kÕt luËn hµnh vi cña Vi Văn B vµo ngµy 19/11/2017 ®· dïng hòn đá (có cạnh sắc nhọn) đập 03 (ba) cái vµo ®Çu anh Thao Va P, 01vết thương vùng gò má trái 3x3 cm, sâu sát xương, bờ mép sắc gọn; sẹo liền tốt: 15%; 01 vết thương sau gáy 2,5x 1cm, bờ mép sắc gọn; sẹo liền tốt: 8%; 01 vết thương trầy xước, sưng to kích thước 2x 1cm, bị bầm tím : 3%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể theo điều 4-Thông tư 20/2014/TT-BYT, ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế là : 24% (Hai mươi tư phần trăm) sức khỏe ®· ph¹m vµo téi "Cè ý g©y th ¬ng tÝch" theo quy ®Þnh t¹i khoản 2 điều 104 BLHS 1999. Nay là điểm a khoản1, khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự 2015.

Theo quy định tại khoản 2 điều 104 BLHS 1999, thì “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 61% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản1 điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm” và tại khoản 2 điều 134 BLHS 2015, thì “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, l, m, n và o khoản1 điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm”.

a) Dùng hung khí nguy hiểm...

Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường L, tỉnh Thanh Hóa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới sức khoẻ, tính mạng của con người bị phấp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hậu quả nguy hiểm của hành vi dùng hòn đá đập 03 ( ba) cái vào đầu của người bị hại anh P lµm tæn h¹i ®Õn 24% søc kháe, bị dư luận xã hội lên án vµ làm ảnh hưởng ®Õn trËt tù an toµn x· héi. Do vËy cÇn thiÕt ph¶i cã h×nh ph¹t nghiªm ®èi víi bÞ c¸o ®Ó trõng trÞ vµ gi¸o dôc bÞ c¸o trë thµnh ng êi cã Ých cho x· héi, cã ý thøc tu©n theo ph¸p luËt vµ c¸c quy t¾c cña cuéc sèng, ng¨n ngõa vµ gi¸o dôc nh÷ng ng êi kh¸c t«n träng ph¸p luËt, ®Êu tranh phßng ngõa vµ chèng téi ph¹m.

Trong vụ án này giữa bị cáo và người bị hại không có mâu thuẩn từ trước, anh P do nghi ngờ chị L (Vợ) có quan hệ tình cảm với bị cáo B, lẽ ra bị cáo trao đổi giải thích ®Ó hai bªn cùng thông cảm bỏ qua, nh ng víi b¶n chÊt xem th êng ph¸p luËt bÞ c¸o ®· cÇm hòn đá ®Ó g©y th ¬ng tÝch cho anh P mất 24% sức khỏe.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội nhất thời ngoài ý muốn, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năm hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả; có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn có xác nhận chính quyền địa phương, bị cáo có nơi cứ trú rõ ràng và có khả năng cải tạo tại nơi cư trú, không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt phạt tù, thì cũng không gây ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nên HĐXX áp dụng điều 3; điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, cho bị cáo cải tạo tại nơi cư trú, mà vẫn đủ sức răn đe.Vì vậy cần áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng.

Với tính chất, hậu quả, nhân thân của bị cáo không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ thời gian để bị cáo cải tạo, rèn luyện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: C¨n cø vµo ®iÒu 30 BLTTHS, Bé luËt d©n sù n¨m 2015, c¨n cø vµo yªu cÇu båi th êng thiÖt h¹i cña ng êi bÞ h¹i, trong qu¸ tr×nh ®iÒu tra vµ t¹i phiªn tßa ng êi bÞ h¹i ®· xuÊt tr×nh ® îc c¸c tµi liÖu, chøng cø, hãa ®¬n hîp ph¸p cho viÖc chi phÝ hîp lý trong viÖc cøu ch÷a, cÊp cøu t¹i bÖnh viÖn. Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản sau: tiÒn viÖn phÝ bệnh viện huyện Mường L: 1.400.000đông,tiền xe: 500.000đồng, tiền ăn 02người x 09 ngày x 90.000đồng: 1.620.000đồng, tiền viện phí tỉnh thanh hóa: 1.042.000đồng, tiÒn thuª xe « t« chë ®i gi¸m ®Þnh ngµy lµ: 3.000.000 ®ång. V× vËy chi phÝ hîp lý ® îc tÝnh là : 7.562.000đồng ( Bảy triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

- Ng êi bÞ h¹i ®· ®iÒu trÞ th ¬ng tËt ë c¸c bÖnh viÖn trong thêi h¹n 09 ngµy, tõ ngµy 19,24/11/2017 ®Õn ngµy 28,29/11/2017, ®Ó tÝnh thu nhËp thùc tÕ bÞ mÊt trong thêi gian ®iÒu trÞ cña ng êi bÞ h¹i vµ 01 ng êi ch¨m sãc ng êi bÞ h¹i trong thêi gian ®iÒu trÞ ® îc tÝnh b»ng:150.000®ång/1 ng êi/1 ngµy x 09 ngµy x 2 ng êi : 2.700.000®ång( hai triệu bảy trăm nghìn đồng)

- TiÒn båi d ìng, phôc håi søc kháe vµ chøc n¨ng bÞ gi¶m søc kháe, tiÒn bï ®¾p tæn thÊt vÒ tinh thÇn do søc kháe bÞ x©m ph¹m cña ng êi bÞ h¹i: 70.000.000 đồng. Hội đồng xét xử với tỷ lệ thương tích 24% sức khỏe chỉ được tính b»ng 10 th¸ng l ¬ng tèi thiÓu x1.390.000đ/ tháng = 13.900.000 ®ång. Tæng sè tiÒn cña nh÷ng chi phÝ hîp lý mµ bÞ c¸o Vi Văn B ph¶i båi th êng cho anh Thao Va P lµ : 7.562.000®ång + 2.700.000 đồng + 13.900.000 ®ång = 24.162.000 ®ång (hai mươi tư triÖu một tr¨m sáu m ¬i hai ngh×n ®ång),bị cáo đã bồi thường cho anh P: 7.000.000đ, còn phải bồi thường : 17.162.000đ (mười bảy triệu một trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

Các khoản chi phí khác người bị hại anh Thao Va P chưa xuất trình được hóa đơn, chứng từ. Nên Hội đồng xét xử dành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

Xét về phần án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo không phải chịu án phí HSST và bị cáo,người bào chữa cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn B phạm tội téi "Cè ý g©y th ¬ng tÝch".

Áp dụng: Khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt : Vi Văn Bun 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Thời hạn thi hành án tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vi Văn B cho UBND xã Quang chiểu, huyện Mường L, tỉnh Thanh Hóa là chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú quản lý, giám sát và giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát và giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự.

Về bồi thường trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào điều 30 Bộ luât Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 357; 360; 585; 586; 587; 589 Bộ luật dân sự năm2015. BÞ c¸o Vi Văn B ph¶i båi th êng cho anh Thao Va P - Sinh năm 1977; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản Pá H, xã Nhi S, huyện Mường L, tỉnh Thanh Hóa số tiền : 17.162.000đ (mười bảy triệu một trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Về án phí:Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm và án phí có giá nghạch cho bị cáo Vi Văn B.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- VKS nhân dân huyện Mường L;

- VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa;

- Cơ quan CSĐT- Công an H. Mường L;

- Chi cục THADS huyện Mường L;

- UBND xã Quang Ch, H. Mường L;

- Bị cáo ;

- Ngươi bị hại;

- Hồ sơ Thi hành án Hình sự;

Quách Văn Th

- Lưu Hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TP-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Hào

Lê Thị Thủy

Quách Văn Thành

Cỡ chữ