- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cấp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2018/HS-ST Ngày: 13-8-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông: Đặng Văn Hai;
2/ Ông: Đặng Thanh Cao.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cao Diễm là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Chính - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2018/HSST, ngày 27 tháng 06 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn K; sinh năm 1972; sinh tại HD; Nơi đặng ký hộ khẩu thường trú: Không đăng ký thường trú; Chỗ ở: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: làm thuê, trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 21/12/1995 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chấp hành hình phạt tù từ ngày 05/02/1997, đã xóa án tích. Con ông Trần Văn C, sinh năm: không rõ và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: không rõ; Gia đình có 01 anh em, bị cáo là người thứ nhất; tạm giữ: từ ngày 15/4/2018 đến ngày 24/4/2018, tạm giam: Từ ngày 24/4/2018 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lai Vung. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
1/. Lê Ngọc T, sinh năm: 1998; Trú tại: 495A ấp T, xã T, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).
2/. Nguyễn Bửu A, sinh năm: 1979; Trú tại: 585A ấp T, xã T, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
Người làm chứng: Nguyễn Hữu N, sinh năm: 1987; Trú tại: 527 ấp T, xã T, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ, ngày 13/4/2018, bị cáo Nguyễn Văn K đi bộ từ cầu mới Tân Thành thuộc xã T, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp rẽ trái vào đường đal khoảng 01 km thì thấy nhà số 583/3A ấp T, xã T, huyện LV, không có hàng rào xung quanh của anh Nguyễn Bửu A. K đi qua hông nhà ra phía sau phát hiện vách nhà có 01 lỗ hỏng (ngang 3,3 mét, dài 01 mét), Kiên chui vào bên trong nhà lấy 01 điên thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh của anh A đang cắm sạc pin trên bàn để tivi để vào túi quần thì bị chị Trần Thị Mỹ H (vợ anh A) phát hiện truy hô nên bị cáo chui ra ngoài qua lỗ vách hỏng, chạy ra đường đal khoảng 100 mét thì rẽ vào bụi cây ven đường rồi tắt nguồn 02 điện thoại và tháo rời 03 sim ra để vào túi quần (03 sim điện thoại bị rơi không tìm được). Đến khoảng 02 giờ ngày 14/4/2018 bị cáo Nguyễn Văn K đi bộ đến nhà số 495A ấp Tân An, xã T, huyện LV của anh Lê Ngọc T, phát hiện nhà không đóng cửa trước nên K đi vào nhà lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng của anh T đang sạc pin trong phòng ngủ để vào túi quần rồi đi về hướng rạch Bà Nhau thì bị Công an xã T nghi ngờ mời về làm việc, bị cáo thừa nhận hành vi trộm cấp của mình và giao nộp 03 điện thoại di động vừa lấy trộm và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1133 màu đen (diện thoại của K sử dụng hằng ngày); 01 Sim mạng Vina số: 8984020009050568072 và 01 Sim mạng Mobifone số: 8401120992391313 (bị cáo nhặt được 02 sim này trên đường ở xã T).
Tại kết luận định giá tài sản số 27, 28 cùng ngày 16/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lai Vung kết luận: 01 điện di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng, số IMEI1:355213090037441, số IMEI2:3552140900637449 có giá trị 2.287.000 đồng; 01 điện di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng, số IMEI1:357623085221131, số IMEI2:357624085221139 có giá trị 1.883.000 đồng và 01 điện di động hiệu Nokia 1133, số IMEI1:356018084889643, số IMEI2:35618084889650 có giá trị 210.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 4.380.000 đồng.
Ngày 23/4/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Lai Vung đã trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng cho anh Lê Ngọc T; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1133 mùa xanh cho anh Nguyễn Bửu A. Sau khi nhận lại các tài sản, anh Tvà anh A không có yêu cầu gì thêm.
Tại cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 26 tháng 06 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị can Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên tòa nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn K có tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (phạm tội 2 lần trở lên) .
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành thẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS tiêu hủy; 01 Sim mạng Vina số: 8984020009050568072 và 01 Sim mạng Mobifone số: 8401120992391313 thu giữ của Nguyễn Văn Kiên do không có giá trị sử dụng. Tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung quản lý 01 điện di động hiệu Nokia 1133, màu đen của Kiên để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa Bị cáo Nguyễn Văn K thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung, Điều tra viện; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nội dung vụ án: Vào khoảng 00 giờ, ngày 13/4/2018, bị cáo Nguyễn Văn K đi bộ từ cầu mới T thuộc xã T, huyện LV rẽ trái vào đường đal khoảng 01 km thì thấy nhà số 583/3A ấp T, xã T, huyện LV, không có hàng rào xung quanh của anh Nguyễn Bửu A. Bị cáo Kiên đi qua hông nhà ra phía sau phát hiện vách nhà có 01 lỗ hỏng (ngang 3,3 mét, dài 01 mét) và chui vào bên trong nhà lấy 01 điên thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh của anh An đang cắm sạc pin trên bàn để tivi để vào túi quần thì bị chị Trần Thị Mỹ H (vợ anh A) phát hiện truy hô nên bị cáo chui ra ngoài qua lỗ vách hỏng, chạy ra đường đal khoảng 100 mét thì rẽ vào bụi cây ven đường rồi tắt nguồn 02 điện thoại và tháo rời 03 sim ra để vào túi quần (03 sim điện thoại bị rơi không tìm được). Đến khoảng 02 giờ ngày 14/4/2018 bị cáo Nguyễn Văn K đi bộ đến nhà số 495A ấp T, xã T, huyện LV của anh Lê Ngọc T, phát hiện nhà không đóng cửa trước nên đi vào nhà lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng của anh T đang sạc pin trong phòng ngủ để vào túi quần rồi đi về hướng rạch Bà Nhau thì bị Công an xã T nghi ngờ mời về làm việc, bị cáo K thừa nhận hành vi trộm cấp của mình và giao nộp 03 điện thoại di động vừa lấy trộm và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1133 màu đen (điện thoại của K sử dụng hằng ngày); 01 Sim mạng Vina số: 8984020009050568072 và 01 Sim mạng Mobifone số: 8401120992391313 (bị cáo K nhặt được 02 sim này trên đường ở xã Tân Thành).
Về tội danh: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thể hiện trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung đã truy tố và viện dẫn. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luật hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Kiên đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:”
Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo Nguyễn Văn K theo điều khoản và tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi do mình gây ra.
Về tính chất, mức độ hành vi: bị cáo Nguyễn Văn K là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, xâm phạm tài sản của người khác một cách trái phép, tài sản của công dân là khách thể được Bộ Luật hình sự bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến, thế nhưng vì bản chất tham lam, ý thức xem thường luật pháp mà bị cáo đã phạm tội, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm mục đích răng đe giáo dục phòng ngừa chung. Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, gây bất bình trong dư luận, vì tài sản sơ hở sẽ bị chiếm đoạt bất cứ lúc nào, cho nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc để răng đe giáo dục chung trong xã hội.
Bị cáo Nguyễn Văn K có tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản nên không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng trong vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 Sim mạng Vina số: 8984020009050568072 và 01 Sim mạng Mobifone số: 8401120992391313 thu giữ của bị cáo do không có giá trị sử dụng. Tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung quản lý 01 điện di động hiệu Nokia 1133, màu đen của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo và các bị hại được kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Văn K 01 (một) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 15/04/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 và Điều 106 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) Sim mạng Vina số: 8984020009050568072 và 01 Sim mạng Mobifone số: 8401120992391313.
Giao trả cho bị cáo Nguyễn Văn K 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 1133, màu đen nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo và các Bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Lai Vung; - Cơ quan THAHS huyện Lai Vung; - Cơ quan điều tra huyện Lai Vung; - Chi cục THADS huyện Lai Vung; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo; - Các đương sự trong vụ án; - Lưu hồ sơ, án văn . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Cẩm Nhung |