- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1 - Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu Vũ T và chị Đoàn Thị Xuân H được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V N TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2018/HNGĐ-ST Ngày 12 tháng 6 năm 2018 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VN - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Kim Trọng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Loan
2. Ông Nguyễn Tam Kỳ.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Phan Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V N, tỉnh Khánh Hòa
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VN - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pháp - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V N - tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 40/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2018, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐST - HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 29 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu Vũ T - sinh năm: 1979; trú tại: Tổ dân phố số 10, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Có mặt.
- Bị đơn: Chị Đoàn Thị Xuân H - sinh năm: 1981; trú tại: Tổ dân phố số 10, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến tòa án ngày 28/12/2017, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu Vũ T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu Vũ T và chị Đoàn Thị Xuân H tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 17/01/2005 tại Ủy ban nhân dân thị trấn VG, huyện V N, tỉnh Khánh Hòa, Giấy chứng nhận kết hôn số 14, quyển số 01. Chung sống đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên kình cãi. Chị H ham mê cờ bạc, không quan tâm, chăm lo cho gia đình, chồng con, anh T khuyên bảo nhiều lần nhưng chị H không nghe nên vợ chồng xảy ra cải vã, xúc phạm nhau, mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm trọng. Khoảng giữa năm 2014, anh T đưa hai con chung về nhà cha mẹ đẻ tại tổ dân phố số 10, thị trấn V G làm ăn sinh sống, từ đó vợ chồng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm, chăm sóc đến ai và chấm dứt quan hệ vợ chồng đến nay.
Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, anh Tấn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Đoàn Thị Xuân H.
Về con chung: Anh T và chị Hòa có hai con chung: Nguyễn Hữu T - sinh ngày 18 tháng 7 năm 2006 và Nguyễn Hữu T - sinh ngày 18 tháng 7 năm 2006. Anh T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Tấn không yêu cầu chị Hòa cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh T xác định vợ chồng không có nợ chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn chị Đoàn Thị Xuân H để lấy lời khai và hòa giải nhưng chị H không có mặt nên Toà án không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Đoàn Thị Xuân H là bị đơn đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đoàn Thị Xuân H.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu Vũ T và chị Đoàn Thị Xuân H kết hôn tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V G, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận kết hôn số số 14, quyển số 01, nên quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H là hợp pháp. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn, anh T xác định: Do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên kình cãi, Chị H ham mê cờ bạc, từ đó thiếu quan tâm chăm sóc đến anh T và các con, anh T khuyên bảo thì vợ chồng chửi bới, xúc phạm nhau. Vợ chồng thật sự chấm dứt quan hệ vợ chồng từ giữa năm 2014 cho đến nay. Tại phiên tòa anh T xác định anh T không còn yêu thương chị H, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị H.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết vụ ly hôn giữa hai người nhưng chị H đều không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập của Toà án. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H, anh T đã mâu thuẫn gay gắt và chị H không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này nữa. Nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa anh T, chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn với chị Đoàn Thị Xuân H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của anh T.
Về con chung: Anh T, chị H có hai con chung là Nguyễn Hữu T - sinh ngày 18 tháng 7 năm 2006 và Nguyễn Hữu T - sinh ngày 18 tháng 7 năm 2006, tại biên bản ghi lời khai ngày 02 tháng 02 năm 2018, các con chung Nguyễn Hữu T và Nguyễn Hữu T đều có nguyện vọng sống chung cùng anh T và hiện tại các con chung do anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay các con chung còn nhỏ, cần có sự ổn định mới bảo đảm được cuộc sống, nên yêu cầu của anh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là không trái với đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của anh Tấn. Anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh Nguyễn Hữu Vũ T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Đoàn Thị Xuân H mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của chị H.
Về án phí: Anh Nguyễn Hữu Vũ T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
1 - Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu Vũ T và chị Đoàn Thị Xuân H được ly hôn.
2 - Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:
Giao hai con chung Nguyễn Hữu T - sinh ngày 18 tháng 7 năm 2006 và Nguyễn Hữu T - sinh ngày 18 tháng 7 năm 2006 cho anh Nguyễn Hữu Vũ T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh T không yêu cầu chị Hòa cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị H được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết anh T, chị H có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như về cấp dưỡng nuôi con chung.
3 - Về tài sản chung: Anh Nguyễn Hữu Vũ T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4 - Về án phí: Nguyễn Hữu Vũ T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0013985 ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V N; anh T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5 - Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện VN ; - Chi cục THA huyện VN; (Sau khi án có hiệu lực pháp luật) - Ủy ban nhân dân thị trấn VG; - Các đương sự; - Lưu vụ án; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Kim Trọng |