- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Phạm Văn T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2018/HNGĐ-ST Ngày: 18 – 9 – 2018. “V/v ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Xuân Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Duy Tỏi và ông Đào Đình Phúc.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018 về việc Ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2018/QĐXX-ST ngày 31 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị L, sinh năm 1984 – ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã P, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương – Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: anh Phạm Văn T, sinh năm 1981 – ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã P, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương – Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị L trình bày: chị và anh Phạm Văn T đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương vào ngày 22/3/2005. Vợ chồng chung sống với nhau cho đến nay vẫn chưa có con, mặc dù cả hai vợ chồng đã đi nhiều nơi để khám chữa nhưng vẫn không có kết quả. Vì thế, vợ chồng bị ảnh hưởng về tâm lý, cuộc sống mệt mỏi và căng thẳng, thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, cãi vã nhau. Chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống ly thân anh Phạm Văn T từ tháng 06/2017 cho đến nay không quan tâm đến nhau, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án nhanh chóng giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Anh Phạm Văn T trình bày: Anh xác định lời trình bày của chị L về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn là đúng. Về quan hệ tình cảm vợ chồng, anh T xác định vợ chồng có xảy ra một số mâu thuẫn, nguyên nhân chính là vì vợ chồng chung sống với nhau đã lâu mà không có con, mặc dù đã chữa nhiều nơi, nhiều các nhưng không có kết quả, vì thế vợ chồng sống trong tình trạng căng thẳng, áp lực, chị L đã thuê nhà trọ để ở và làm việc tại thành phố Hải Dương, sau đó chị L chuyển về ở nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi từ tháng 6/2017 cho đến nay. Anh xác định vợ chồng tuy có mâu thuẫn nhưng không đáng kể nên có mong muốn vợ chồng khắc phục mâu thuẫn để về sống với nhau, trường hợp nếu chị L vẫn kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng nhất trí.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị L và anh T đều xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Theo kết quả xác minh tại thôn Đ, xã P và lời khai của bà Nguyễn Thị H, là mẹ đẻ của anh T đều phù hợp với lời khai của chị L và anh T về diễn biến quan hệ tình cảm vợ chồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên toà và của các đương sự đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Áp dụng: Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị xử cho chị Trần Thị L ly hôn anh Phạm Văn T. Về con chung, tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị L và anh T đều xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị L và anh Phạm Văn T đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương vào ngày 22/3/2005, đây là hôn nhân hợp pháp. Do chị L và anh T chung sống với nhau đã lâu nhưng chưa có con chung, mặc dù hai bên đã cố gắng khám chữa nhiều nơi nhưng không có kết quả, vì lý do này dẫn đến vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và bất đồng quan điểm và chị L đã về nhà bố mẹ đẻ sống ly thân anh T từ tháng 6/2017 cho đến nay. Anh T xác định trường hợp chị L kiên quyết xin ly hôn anh cũng nhất trí. Xét thấy lời khai của các đương sự phù hợp với nhau về mâu thuẫn vợ chồng, phù hợp với lời khai của người làm chứng, có căn cứ xác định hai bên đã sống ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần xử cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn T là phù hợp với điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình
Về con chung, tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị L và anh T đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy, HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Phạm Văn T
2. Về án phí: Chị Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn. Đối trừ tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số AB/2014/0004168 ngày 23/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện. Chị Trần Thị L đã nộp đủ án phí sơ thẩm ly hôn.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thanh Miện; - Chi cục THADS huyện Thanh Miện; - UBND xã P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Xuân Trường |