- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Đoàn Thị L, Bùi Thị Ánh T tranh chấp quyền sử dụng đất với Phạm Nhật T"
- Tòa quyết gì? Luật Đ t đai năm 2013; Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đ t đai; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Đ t đai
Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh | |
Số: 22/2018/DS-ST Ngày: 03/08/2018 |
TÒ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VI T N M THỊ XÃ BÌNH MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v tranh ch p quyền sử dụng đ t NHÂN D NH NƯỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VI T N M TÒ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG - hành phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: Thẩ phán - Chủ t a phiên tòa: Ông Trần Quốc Huy Các Hội thẩ nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Tú 2. Ông Sơn Mứt - hư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Điệp – Thư ký Tòa án, - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Đời – Kiểm sát viên. 7 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: 1. Bà Đoàn Thị L, sinh năm: 1964 Địa chỉ: Tổ 07, khóm 5, phường P, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.
2. Bà Bùi Thị Ánh T, sinh năm: 1963 Địa chỉ: Tổ 05, khóm 5, phường P, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long, có mặt. - Bị đơn: Anh Phạm Nhật T, sinh năm: 1974 Địa chỉ: Tổ 05, khóm 5, phường P, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long, có mặt. - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Phan Thanh C, sinh năm: 1962 Địa chỉ: Tổ 07, khóm 5, phường P, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long, xin vắng. 2. Chị Phan Thị Út Mười H, sinh năm: 1982 Địa chỉ: Tổ 05, khóm 5, phường P, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01 tháng 6 nă 2017, đơn khởi kiện bổ sung ngày 13 tháng 6 nă 2017 và quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn Đoàn Thị L trình bày: Phần đ t của bà thuộc thửa 82, diện tích 1.574,6m2 loại đ t trồng cây lâu năm tọa lạc tại khóm 5, phường P, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long do bà đứng tên quyền sử dụng đ t. Nguồn gốc đ t thửa 82 là do bà nhận chuyển nhượng từ chiết thửa 17 của cụ Dương Thị C (bà ngoại của anh Phạm Nhật T) do ông Lê Văn T (là cháu cụ C) đứng ra chuyển nhượng. Khi nhận chuyển nhượng phần đ t thửa 82 có diện tích ngang 05 tầm, dài 41,5 tầm (tầm 2,8m), diện tích 1.624 m2 và nửa cái mương thủy lợi diện tích khoảng 50m2. Khi thực hiện đo đạc theo Nghị định 60/CP thì do phần đ t của bà và đ t của bà Bùi Thị Ánh T cùng một dây nên cán bộ đo đạc cho rằng cùng một chủ sử dụng đã tiến hành đo đạc toàn bộ diện tích thửa 17 (đo trùm thửa), từ đó bà và bà T chưa ai được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Phần đ t này giáp với thửa 18, diện tích 5.625,8m2 do ông Phạm Văn P đứng tên nay là anh Phạm Nhật T thừa kế.
Đến năm 2005, bà tiến hành thủ tục đo đạc để được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t thì phát hiện gia đình anh T đã l n chiếm bằng việc di dời trụ ranh l n sang thửa 82 của bà. Bà đã làm đơn khiếu nại gởi đến Ủy ban nhân dân phường P giải quyết nhưng không thành. Đến khi Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long đo đạc tách làm lộ Hai Bà Trưng thì bà và anh T thỏa thuận cắm mốc xong nhưng sau đó anh T lại tiếp tục nhổ và dời trụ ranh chiều ngang trong là 0,6m, chiều ngang giáp rạch là 0,9m, chiều ngang hai bên giáp đường Hai Bà Trưng mỗi bên 0,9m, chiều dài 116m, diện tích l n chiếm khoảng 87m2. Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T trả lại cho bà phần đ t l n chiếm diện tích khoảng 87m2 thuộc một phần thửa 82. Tại đơn khởi kiện ngày 01 tháng 6 nă 2017, đơn khởi kiện bổ sung ngày 27 tháng 10 nă 2017 và quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn Bùi Thị Ánh T trình bày: Phần đ t của bà thuộc thửa 17, diện tích 1.600m2 và thửa 64, diện tích 1.117,9m2, chia ra làm đ t ruộng và đ t vườn tọa lạc tại khóm 5, phường P, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long do bà đứng tên quyền sử dụng đ t. Nguồn gốc đ t thửa 17 là do bà nhận chuyển nhượng từ chiết thửa 17 của cụ Dương Thị C do ông Lê Văn T (là cháu cụ C) đứng ra chuyển nhượng. Khi thực hiện đo đạc theo Nghị định 60/CP thì do phần đ t của bà và đ t của bà L cùng một dây nên cán bộ đo đạc tiến hành đo đạc toàn bộ diện tích thửa 17, từ đó bà và bà L chưa ai được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Phần đ t này giáp với thửa 18, diện tích 5.625,8m2 do ông P đứng tên nay là anh T thừa kế. Trong quá trình sử dụng đ t, anh T đã l n chiếm phần đ t của bà, cụ thể ngang ngoài giáp thửa đ t của bà L là 0,6m, ngang trong giáp vườn là 0,4m, chiều dài khoảng 117m, diện tích khoảng 58m2. Đối với thửa 64, cặp ranh là thửa 71, diện tích 2.415,8m2 của anh T thừa kế từ ông P. Quá trình sử dụng đ t anh T đã dời trụ ranh đập phá hàng rào của bà, anh T l n chiếm phần đ t của bà ngang 0,4m, dài 45m, diện tích khoảng 14m2.
Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anhT trả lại cho bà phần đ t l n chiếm diện tích khoảng 58m2 thuộc một phần thửa 17 và diện tích khoảng 14m2 thuộc một phần thửa 64. Tại Tờ tường trình ngày 15 tháng 7 nă 2017 và quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn Phạ Nhật T trình bày: Phần đ t anh được thừa kế từ cha anh là ông Phạm Văn P thửa 18, diện tích 5625.8m2, loại đ t lúa và thửa 71, diện tích 2.415,8m2, loại đ t trồng cây lâu năm tọa lạc tại khóm 5, phường P, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long. Khi anh được Ủy ban nhân dân huyện M c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 2012 thì ranh đ t vẫn giữ nguyên hiện trạng cho đến nay. Đến năm 2015 bà L tự ý kêu ông T đến đỗ trụ đá cắm ranh đ t ruộng giáp với anh và bà L nhưng bà L không kêu anh ra xác định vị trí ranh đúng hay không, đến nay bà L và bà T nói anh l n ranh là vô lý. Đối với yêu cầu của bà L anh không đồng ý vì phần ranh đ t trước giờ đúng ngay bờ mẫu anh đã chỉ ranh khi đo đạc. Do đó, anh yêu cầu công nhận đ t thửa 18 cho anh đúng ranh theo bờ mẫu. Đối với yêu cầu của bà T anh không đồng ý vì phần ranh đ t ruộng giữa anh và bà T tại thửa 18 trước giờ cũng ngay bờ mẫu anh đã chỉ ranh khi đo đạc. Do đó, anh yêu cầu công nhận đ t thửa 18 cho anh đúng ranh theo bờ mẫu. Đối với thửa 71 ranh đ t đúng ngay hàng rào của bà T, anh đã chỉ ranh theo đo đạc, yêu cầu công nhận đ t thửa 71 cho anh đúng ranh ngay hàng rào. Tại văn bản ngày 01 tháng 6 năm 2017 và quá trình giải quyết vụ án, ông Phan Thanh C thống nh t với ý kiến của bà Đoàn Thị L, ông không yêu cầu gì khác. Quá trình giải quyết vụ án, chị Phan Thị Út Mười H thống nh t với ý kiến của anh Phạm Nhật T. Tại phiên tòa sơ thẩm: - Nguyên đơn Đoàn Thị L thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc anh Phạm Nhật T và chị Phan Thị Út Mười H trả cho bà phần đ t l n chiếm diện tích 62,6m2 thuộc thửa 82 theo Trích đo
bản đồ địa chính khu đ t ngày 18/12/2017 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã M. - Nguyên đơn Bùi Thị Ánh T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc anh Phạm Nhật T và chị Phan Thị Út Mười H trả cho bà phần đ t l n chiếm diện tích 8,8m2 thuộc thửa 17, diện tích 13,3m2 thuộc thửa 64 theo Trích đo bản đồ địa chính khu đ t ngày 18/12/2017 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã M. - Bị đơn Phạm Nhật T không đồng ý theo yêu cầu của bà L và bà T vì cho rằng đã sử dụng đúng ranh đ t của thửa 18 và thửa 71 theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. - Ông Phan Thanh C vắng mặt tại phiên tòa. - Chị Phan Thị Út Mười H thống nh t với ý kiến của anh T. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh trình bày ý kiến: + Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án còn vi phạm thời hạn tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cho đương sự, vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, cần rút kinh nghiệm. + Về nội dung: Căn cứ trích đo bản đồ địa chính khu đ t ngày 16/11/2017 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường xác định trong diện tích 1.424m2 của bà L có 34,3 m2 gồm các mốc 14, 15, 24, 23, 14 là diện tích đ t tranh ch p trong đó tại thửa 82-5 có 33,6 m2 của bà L và thửa 18-5 có 0,7m2 của ông T. Trong 55,8m2 diện tích đ t tranh ch p gồm các mốc 20, 21, 22, 25, 20 tại thửa 82-2 có 22,1m2 của bà L và thửa 18-3 có 33,6 m2 của ông T. Trong 2.045,8m2 của bà Bùi Thị Ánh T có 66,8m2 diện tích đ t tranh ch p gồm các mốc 7, 26, 21, 20, 7 tại thửa 17- 2 có 8,7m2 của bà T và thửa 18-2 có 58,1m2 của ông T. Căn cứ Trích đo bản đồ địa chính khu đ t ngày 01/03/2018 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường xác định trong 1.007,2m2 của bà T có 22,6m2 gồm các mốc 5, 13, 12, 14, 5 tại tách thửa 71 có 13,6 m2 của ông T và tách thửa 64 có 9.0m2 của bà T.
Áp dụng Điều 12, Điều 203 Lu t đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Chấp nh n một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Buộc ông Phạm Nh t T trả lại 33,6m2 thuộc thửa 82 và 22,1m2 đối với thửa 17 cho bà Đoàn Thị L; 8,7m2 đối với thửa 64 và 9,0 m2 tách thửa 64 cho bà Bùi Thị Ánh T. Buộc ông Phạm Nh t T chịu án phí dân sự sơ thẩm và mỗi bên chịu ½ chi phí khảo sát, đo đạc. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại văn bản ngày 01/6/2017, ông Phan Thanh C xin được vắng mặt tại phiên tòa (BL 61). Do đó, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng ông C theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [2] Tại Trích đo bản đồ địa chính khu đ t ngày 18/12/2017 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Bình Minh (BL 128) thể hiện phần đ t tranh ch p giữa thửa 82 của bà L và thửa 18 của anh T có diện tích 34,3m2 và 55,8m2, phần đ t tranh ch p giữa thửa 17 của bà T và thửa 18 của anh T có diện tích 66,8m2, trong đó: - Phần 34,3m2 có: 33,6m2 thuộc chiết thửa 82-5 và 0,7m2 thuộc chiết thửa 18-5. - Phần 55,8m2 có: 22,1m2 thuộc chiết thửa 82-2, 33,6m2 thuộc chiết thửa 18-3 và 0,1m2 thuộc chiết thửa 17-4. Bên cạnh đó, qua xác định của cơ quan Tài nguyên và Môi trường trong phần xác định ranh của anh T còn có chiết thửa 82-6 diện tích 6,9m2. -Phần 66,8m2 có: 8,7m2 thuộc chiết thửa 17-2 và 58,1m2 thuộc chiết thửa 18-2.
Như vậy, trong phần đ t theo sự xác định ranh của anh T cho rằng đang sử dụng có 62,6m2 thuộc thửa 82 của bà L và 8,8m2 thuộc thửa 17 của bà T. Từ đó, có căn cứ để ch p nhận yêu cầu của bà L và bà T, công nhận cho bà L được quyền sử dụng phần đ t diện tích 62,6m2 thuộc chiết thửa 82-5 và 82-2, công nhận cho bà T được quyền sử dụng phần đ t diện tích 8,8m2 thuộc chiết thửa 17-4 và 17-2, buộc anh T và chị Mười H phải trả các phần đ t này lại cho bà L và bà T. Tại Trích đo bản đồ địa chính khu đ t ngày 23/4/2018 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Bình Minh (BL 158 – 159) thể hiện phần đ t tranh ch p giữa thửa 64 của bà T và thửa 18 của anh T có diện tích 4,9m2, giữa thửa 64 và thửa 71 có diện tích 22,6m2, trong đó: - Phần 4,9m2 có: 3,2m2 thuộc chiết thửa 64 và 1,7m2 thuộc chiết thửa 18. - Phần 22,6m2 có: 9,0m2 thuộc chiết thửa 64 và 13,6m2 thuộc chiết thửa 71. Ngoài ra, qua xác định của cơ quan Tài nguyên và Môi trường trong phần xác định ranh của anh T còn có chiết thửa 64 diện tích 1,1m2. Như vậy, trong phần đ t theo sự xác định ranh của anh T cho rằng đang sử dụng có 13,3m2 thuộc thửa 64 của bà T. Từ đó, có căn cứ để ch p nhận yêu cầu của bà T, công nhận cho bà T được quyền sử dụng phần đ t diện tích 13,3m2 thuộc chiết thửa 64, buộc anh T và chị Mười H phải trả các phần đ t này lại cho bà T. Trên các phần đ t tranh ch p không có cây lâu năm, vật kiến trúc nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Các phần đ t khác không tranh ch p nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. [3] Về chi phí khảo sát, đo đạc, định giá tài sản: Lần 1: 7.375.000 đồng, lần 2: 4.060.000 đồng. Do bà L và bà T thay đổi yêu cầu khởi kiện nên buộc bà L và bà T phải chịu ½ chi phí, buộc anh T và chị Mười H phải chịu ½ chi phí. Bà L và bà T đã nộp tạm ứng trước nên phần của bà L và bà T được kh u trừ, buộc anh T và chị Mười H phải trả lại cho bà L 1.843.000 đồng, trả lại cho bà T 3.873.000 đồng.
[4] Về án phí: Buộc anh T và chị Mười H phải chịu án phí không giá ngạch theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 100, Điều 166, khoản 1 Điều 179 của Luật Đ t đai năm 2013; Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tỏa án; 1. Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị L và bà Bùi Thị Ánh T. Công nhận bà Đoàn Thị L được quyền sử dụng phần đ t chiết thửa 82-2 diện tích 22,1m2, chiết thửa 82-5 diện tích 33,6m2 và chiết thửa 82- 6 diện tích 6,9m2 loại đ t chuyên trồng lúa nước tọa lạc khóm 5, phường P, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long. Buộc anh Phạm Nhật T và chị Phan Thị Út Mười H trả lại các phần đ t này cho bà Đoàn Thị L. Công nhận bà Bùi Thị Ánh T được quyền sử dụng phần đ t chiết thửa 17-2 diện tích 8,7m2, chiết thửa 17-4 diện tích 0,1m2 loại đ t chuyên trồng lúa nước; chiết thửa 64 diện tích 3,2m2 + 9,0m2 + 1,1m2 loại đ t trồng cây lâu năm tọa lạc khóm 5, phường P, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long. Buộc anh Phạm Nhật T và chị Phan Thị Út Mười H trả lại các phần đ t này cho bà Bùi Thị Ánh T. (Kè theo Trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 18/12/2017 và ngày 23/4/2018 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Bình Minh) 2. Về chi phí khảo sát, đo đạc, định giá tài sản: Buộc bà Đoàn Thị L và bà Bùi Thị Ánh T phải chịu 5.719.000 đồng (Năm triệu bảy trăm mười chín nghìn đồng), bà L và bà T đã nộp tạm ứng trước nên được kh u trừ, bà L và bà T đã nộp xong. Buộc anh Phạm Nhật T và chị Phan Thị Út Mười H phải chịu 5.716.000 đồng (Năm triệu bảy trăm mười sáu nghìn đồng), bà L và bà T
đã nộp tạm ứng trước nên buộc anh T và chị Mười H phải nộp 1.843.000 đồng (Một triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn đồng) để trả cho bà L, nộp 3.873.000 đồng (Ba triệu tám trăm bảy mươi ba nghìn đồng) để trả cho bà T. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa chịu trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án. 3. Về án phí: Buộc anh Phạm Nhật T và chị Phan Thị Út Mười H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả bà Đoàn Thị L số tiền tạm ứng án phí 369.000 đồng (Ba trăm sáu mươi chín nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0008715 ngày 29/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh. Hoàn trả bà Bùi Thị Ánh T số tiền tạm ứng án phí 290.000 đồng (Hai trăm chín mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0008717 ngày 29/6/2017 và 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0008885 ngày 27/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌ PHIÊN TÒ
Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long: 01 - VKSND TX.Bình Minh: 01 - Chi cục THADS TX.Bình Minh: 01 - Đương sự: 05 - Lưu: 04 Trần Quốc Huy |