vanban.org

Bản án 22/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Nguyễn Thị N đối với bà Phạm Thị Ngọc T.

Buộc bà Phạm Thị Ngọc T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền vay còn nợ là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Thị N, nếu chậm thi hành, bà Phạm Thị Ngọc T phải trả thêm tiền lãi cho bà Nguyễn Thị N theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị N "Tranh chấp HĐ vay tài sản" Phạm Thị Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Nguyễn Thị N đối với bà Phạm Thị Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN TRỤ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2018/DS-ST
Ngày: 20-6-2018
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ

TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phùng Văn Minh.

2. Ông Võ Ngọc Cơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Mãi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Ngày 20 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2018/TLST-DS, ngày 13 tháng 3 năm 2018, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐXXST-DS, ngày 03/5/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2018/QĐST-DS, ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1947. Có mặt.

Địa chỉ: Số x, ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh L.

2. Bị đơn:

2.1 Bà Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1970. Vắng mặt.

2.2 Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972. Có đơn xin vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Số x, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và những lời trình bày tiếp theo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N như sau: Do có quen biết nên ngày 15/6/2017 bà có cho bà Phạm Thị Ngọc T vay số tiền 50.000.000đ, thỏa thuận lãi suất 6%/tháng, thời gian hoàn trả là ngày 16/6/2017, mục đích vay tiền để đáo hạn ngân hàng. Để đảm bảo khoản vay bà Trang có viết giấy nợ.

Từ khi vay cho đến nay bà T không có trả cho bà tiền lãi và nợ gốc. Bà nhiều lần yêu cầu bà T trả nợ nhưng bà T không trả vốn và lãi. Bà N yêu cầu bà T hoàn trả số tiền vốn vay còn nợ là 50.000.000đ, không yêu cầu trả lãi.

Tại đơn khởi kiện thì bà N có yêu cầu ông C phải có trách nhiệm cùng bà T trả nợ nhưng bà xác định rút một phần yêu cầu, không yêu cầu ông C cùng bà T trả nợ.

2/ Bị đơn bà Phạm Thị Ngọc T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa.

3/ Bị đơn ông Nguyễn Văn C có đơn xin vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Đương sự trình bày đã cung cấp đủ các chứng cứ, không cung cấp chứng cứ gì thêm và vẫn giữ ý kiến, yêu cầu như tóm tắt nội dung vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà Phạm Thị Ngọc T vẫn vắng mặt và ông Nguyễn Văn C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông C theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị Ngọc T phải trả số tiền vay còn nợ. Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Mặc dù, bà Phạm Thị Ngọc T vắng mặt nhưng đã được Tòa án niêm yết đầy đủ các thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đồng thời, Tòa án cũng niêm yết công khai chứng cứ nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện là Giấy nợ ngày 15/6/2017. Sau khi niêm yết công khai các văn bản tố tụng và các tài liệu chứng cứ nêu nêu trên, bà T cũng không có ý kiến phản đối gì. Căn cứ khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chứng cứ nguyên đơn cung cấp là hợp lệ. Mặc khác, Hội đồng xét xử xác định đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, …. mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ là giấy nợ ngày 15/6/2017 có chữ ký của bà Phạm Thị Ngọc T với nội dung “Ngày 15/6/2017 tôi Phạm Thị Ngọc T… có mượn chị N số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) ngày trả là ngày 16/6/2017” xác định hiện bà Trang có nợ của bà N số tiền vốn vay là 50.000.000đ. Do đó, có căn cứ xác định bà T còn nợ bà N số tiền vốn vay là 50.00.000đ. Nay bà N yêu cầu bà T trả 50.000.000đ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà N yêu cầu ông Nguyễn Văn C liên đới cùng bà T trả nợ. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà N rút yêu cầu không yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn C cùng bà Phạm Thị Ngọc T hoàn trả số tiền vay. Việc rút lại yêu cầu khởi kiện là sự tự nguyện của nguyên đơn và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ đối với yêu cầu này của nguyên đơn.

Về tiền lãi: Bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Phạm Thị Ngọc T phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho bà Nguyễn Thị N là 50.000.000đ x 5%.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39, 147, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 357 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Nguyễn Thị N đối với bà Phạm Thị Ngọc T.

Buộc bà Phạm Thị Ngọc T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền vay còn nợ là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Thị N, nếu chậm thi hành, bà Phạm Thị Ngọc T phải trả thêm tiền lãi cho bà Nguyễn Thị N theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị N yêu cầu ông Nguyễn Văn C cùng trả nợ với bà Phạm Thị Ngọc T. Bà Nguyễn Thị N được quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu đình chỉ này.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Phạm Thị Ngọc T phải chịu 2.500.000đ (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

- Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí, hoàn trả cho bà N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.250.000đ (Một triệu, hai trăm năm nghìn đồng) theo biên lai số 0006290, ngày 13/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ