vanban.org

Bản án 22/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2015; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 91, khoản 3 Điều 144, Điều 147,

số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án dân sự sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? 2015; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 91, khoản 3 Điều 144, Điều 147,
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2018/DS-ST

Ngày: 01/10/2018

HUYỆN CÀNG LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Linh. Các Hội thẩm nhân dân: 1/. Ông Đặng Thế Nghiệp. 2/. Ông Nguyễn Hữu Phước. Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Sa Rên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long không tham gia phiên tòa. Trong ngày 01 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2018/TLST-DS ngày 25 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2018/QĐXXST-DS, ngày 27/8/2018 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Bưu Điện L. Địa chỉ trụ sở chính: Đường T, phường C, Quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S , chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Châu Viễn T – Chuyên viên giám sát hoạt động tại Ngân hàng TMCP Bưu điện L Chi nhánh T theo Quyết định ủy quyền số: 92/2018/QĐ-LienVietPostBank.CNTV, ngày 16/4/2018. Địa chỉ: Đường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt). Bị đơn: anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1987 (vắng mặt không có lý do). Địa chỉ: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Bưu điện L Chi nhánh T trình bày: Ngân hàng TMCP Bưu điện L Chi nhánh T đã ký hợp đồng tín dụng số 502-14/HĐTD-LPB.TV ký ngày 19/11/2014 cho anh H vay 40.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng. Thời hạn vay 24 tháng kể từ ngày bên vay nhận tiền vay, phương thức cho vay cho vay từng lần, Lãi suất tiền vay theo quy định của Ngân hàng tại thời điểm giải ngân, lãi suất nợ qúa hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, trả nợ gốc trả trong 23 kỳ đầu số tiền 1.670.000 đồng, kỳ cuối cùng trả số tiền 1.590.000 đồng vào ngày 05 hàng tháng, trả

nợ lãi vào ngày 05 hàng tháng theo dư nợ thực tế, số tiền đã trả đến ngày 01/10/2018 gốc 23.264.570 đồng, lãi trong hạn 4.698.790 đồng. Do anh H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã nhiều lần đề nghị bằng văn bản yêu cầu bên vay vốn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký. Tuy nhiên bên vay vốn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã vay cho Ngân hàng. Nay đại diện Ngân hàng yêu cầu anh Nguyễn Quốc H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện L tổng số tiền tính đến ngày 01/10/2018 là 32.795.529 đồng (trong đó vốn gốc 16.735.430 đồng, nợ lãi trong hạn 1.400.179 đồng, nợ lãi quá hạn 14.659.920 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 502- 14/HĐTD-LPB.TV ký ngày 19/11/2014 cho đến khi thanh toán xong hết nợ cho Ngân hàng. Bị đơn anh Nguyễn Quốc H vắng mặt nên không có lời trình bày. Vụ kiện đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh Nguyễn Quốc H vắng mặt do đó không tiến hành phiên hòa giải được và quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Quốc H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa hôm nay anh Nguyễn Quốc H là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Về xác định quan hệ tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dụng vụ án: Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP Bưu điện L: Vào ngày 19/11/2014 cho anh Nguyễn Quốc H vay số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất vay theo quy định của Ngân hàng tại thời điểm giải ngân, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 24 tháng, nợ gốc trả trong 24 kỳ, trong 23 kỳ đầu mỗi kỳ trả 1.670.000 đồng, kỳ cuối trả 1.590.000 đồng vào ngày 05 hàng tháng. Trong qúa trình vay anh H đã trả được 23.264.570 đồng vốn gốc, lãi trong hạn 4.698.790 đồng , còn thiếu lại số tiền tính đến ngày 01/10/2018 là 32.795.529 đồng (trong đó vốn gốc 16.735.430 đồng, nợ lãi trong hạn 1.400.179 đồng, nợ lãi quá hạn 14.659.920 đồng). Như vậy, việc anh H vay tiền và trả tiền vay hàng tháng cho Ngân hàng TMCP Bưu điện L là có thật. Căn cứ Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thu thập cung cấp giao nộp cho Tòa án tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Ngân hàng TMCP Bưu điện L đã cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là anh Nguyễn Quốc H có vay tiền Ngân hàng thể hiện theo hợp đồng tín dụng số 502-14/HĐTD-LPB.TV ký ngày 19/11/2014 với số tiền 40.000.000 đồng, khế ước nhận nợ số: 502-14/KU-LPB.TV, ngày 19/11/2014, giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ và đã trả hàng tháng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng được số tiền vốn gốc 23.264.570 đồng, tiền lãi 4.698.790 đồng. Xét thấy đây là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn và có lãi suất, khi đến hạn trả nợ, anh H không trả hết số tiền gốc và số tiền lãi cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên vay. Từ những cơ sở nêu trên, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Bưu điện L, buộc anh Nguyễn Quốc H phải trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện L số tiền tính đến ngày 01/10/2018 là 32.795.529 đồng (trong đó vốn gốc 16.735.430 đồng, nợ lãi trong hạn 1.400.179 đồng, nợ lãi quá hạn 14.659.920 đồng). [3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Quốc H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, Ngân hàng không phải chịu án phí và sẽ được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 91, khoản 3 Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự. Tuyên xử: 1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu điện L. Buộc anh Nguyễn Quốc H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện L tổng số tiền tính đến ngày 01/10/2018 là 32.795.529 đồng (trong đó vốn gốc 16.735.430 đồng, nợ lãi trong hạn 1.400.179 đồng, nợ lãi quá hạn 14.659.920 đồng). “Kể từ ngày 02/10/2018 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Quốc H phải nộp 1.640.000 đồng. Ngân hàng TMCP Bưu điện L không phải nộp án phí. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Bưu điện L 957.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2015/ 0017303 ngày 23/05/2018 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C thu.

2. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ