vanban.org

Bản án 22/2018/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 06/03/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/03/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, sửa bản án s thẩm.

Đình ch háng cáo của ông Nguyễn Văn Đ đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của ông Nguyễn Văn Đ về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm” đối với ông Đỗ Văn D2. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn Đ - Đỗ Văn D2"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, sửa bản án s thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố t ng dân s T a án; Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2018/DS-PT
Ngày 06/3/2018
V/v bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng do tài sản bị xâm phạm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Vũ Thị Nguyệt

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Mừng

Ông Bùi Hữu Nhân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đạt Nguyên - Thư T a án nhân dân t nh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2018 tại tr s T a án nhân dân t nh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công hai v án th l số 166/2017/TLPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm”.

Do Bản án dân s s thẩm số 26/2017/DS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện B bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 334/2017/QĐ-PT ngày 28 tháng 12 năm 2017, giữa các đư ng s :

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1958 Trú tại: Thôn 04, xã A, huyện B, t nh Lâm Đồng. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Thanh D1, sinh năm 1967 Trú tại: 11A , phường C, thành phố X, t nh Lâm Đồng. Theo văn bản ủy quyền ngày 11/01/2018.

- Bị đơn: Ông Đỗ Văn D2, sinh năm 1966 Trú tại: Thôn 03, xã A, huyện B, t nh Lâm Đồng.

- Người kháng cáo: Nguyên đ n ông Nguyễn Văn Đ.

(Ông D1 có mặt; ông Đ vắng mặt; ông D2 có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm,

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/9/2014, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ thì:

Vào tháng 3/2014, ông Đỗ Văn D2 có thuê ông Đ đào đất cho gia đình ông. Khi thuê hai bên hông lập giấy tờ gì mà ch thỏa thuận bằng miệng với nhau giá 220.000đ/1 giờ sử d ng máy. Vào sáng ngày 22/3/2014, ông Đ cùng con trai là Nguyễn Văn Thắng và ông D2 đưa máy đào vào vườn của ông D2 thôn 10, xã A, huyện B. Khoảng 14 giờ thì bắt đầu tiến hành công việc và ết thúc lúc 17 giờ 30 cùng ngày. Do chiếc máy đào rất to và ềnh càng nên đã để lại vườn ông D2 để sáng hôm sau làm tiếp. Tuy nhiên ông D2 đã đốt cỏ trong vườn rồi bỏ đi về nhà làm cho cỏ cháy lan sang, hậu quả chiếc máy đào bị cháy hết toàn bộ.

Sáng ngày 23/3/2014 hi biết tin, ông Đ đã báo cho Công an thôn 10, xã A biết. Công an đã tiến hành lập biên bản với s có mặt của ông Đ, ông D2 và người làm chứng. Tại buổi làm việc, ông D2 thừa nhận ông là người đốt cỏ và làm cháy chiếc máy đào, ông D2 cũng chấp nhận bồi thường thiệt hại cho ông Đ. Tuy nhiên, sau đó ông D2 hông bồi thường do hai bên hông thỏa thuận được mức bồi thường.

Vì vậy, ông Đ h i iện buộc ông D2 phải bồi thường trị giá chiếc máy đào là 200.000.000đ và bồi thường tiền thu nhập bị mất là 200.000.000đ.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đỗ Văn D2 trình bày:

Ông D2 hoàn toàn nhất trí với lời trình bày của ông Đ về việc thuê máy đào và giá thuê theo giờ. Sáng ngày 22/3/2014, ông Đ cùng con trai là Nguyễn Văn Thắng và ông D2 đưa máy đào vào vườn của ông D2 thôn 10, xã A, huyện B. Khoảng 14 giờ thì bắt đầu tiến hành công việc và ết thúc lúc 17 giờ 30 cùng ngày. Đến hoảng 18 giờ 00 thì anh Thắng và ông Đ có bảo ông D2 đốt cỏ trên vườn để hôm sau th c hiện việc đảo đất. Khi đốt cỏ thì ch có một mình ông D2, vị trí đốt nằm phía dưới cách chiếc máy đào hoảng gần 2m. Do chiếc máy đào nằm phía trên, c n lửa lan cháy phía dưới nên hông thể bắt lửa đến chiếc máy đào. Đốt cỏ xong ông D2 đi về nhà mà hông chờ cho lửa tắt hết mới về.

Đến hoảng 10 giờ 00 sáng ngày 23/3/2014 hi biết tin báo chiếc máy đào bị cháy, ông D2 vào vườn thì có ông Đ, ông D2 và hai Công an viên thôn 10, xã A lập biên bản s việc.

Nay ông D2 cho rằng ông hông phải là người gây nên v cháy nên ông D2 hông chấp nhận bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của ông Đ. Ông D2 đề nghị T a án giải quyết v án theo quy định của pháp luật.

T a án đã tiến hành h a giải nhưng hông thành.

Tại Bản án s thẩm số 26/2017/DS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện B đã xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của ông Nguyễn Văn Đ đối với ông Đỗ Văn D2 về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm”.

Buộc ông Đỗ Văn D2 phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 17.600.000đ (mười bảy triệu sáu trăm ngàn đồng).

Ông Đỗ Văn D2 được quyền sử d ng 01 chiếc máy đào bánh xích hiệu KOMATSU PC 20UU-3: số hung 1163; số động c NO5618 đã bị cháy hoàn toàn ch c n hung sắt, hình thù ết cấu đã thay đổi nhiều, chiếc xe hông hoạt động được và ch bán phế liệu.

2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản: Buộc ông Đỗ Văn D2 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 3.400.000đ (ba triệu bốn trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đ n yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án c n phải trả số tiền lãi, tư ng ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại hoản 2, Điều 357 Bộ luật Dân s .

Ngoài ra, bản án c n tuyên về án phí, quyền háng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đư ng s .

Ngày 16/8/2017 nguyên đ n ông Nguyễn Văn Đ háng cáo yêu cầu ông Đỗ Văn D2 phải bồi thường trị giá chiếc xe múc là 200.000.000đ và bồi thường thu nhập bị mất do xe bị cháy số tiền 200.000.000đ; tổng cộng là 400.000.000đ.

Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đ n rút kháng cáo đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất là 200.000.000đ. Yêu cầu ông D2 phải bồi thường thiệt hại do làm cháy chiếc xe máy múc là 180.000.000đ.

Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Lâm Đồng nêu iến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên t a hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố t ng dân s . Đồng thời, nêu quan điểm đề nghị: Căn cứ hoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân s , chấp nhận háng cáo của ông Đ, sửa bản án s thẩm theo hướng buộc ông D2 phải bồi thường thiệt hại cho ông Đ số tiền 180.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ s v án và được thẩm tra tại phiên t a; Căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên t a; Ý iến của đại diện Viện iểm sát tham gia phiên t a. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đ n ông Đỗ Văn D2 có đ n xin xét xử vắng mặt đề ngày 08/01/2018 nên căn cứ hoản 2, Điều 296 Bộ luật Tố t ng dân s T a án tiến hành xét xử vắng mặt ông D2.

Về quan hệ tranh chấp: Xuất phát từ việc tháng 3/2014, ông D2 có thuê ông Đ đào đất cho gia đình ông. Khi thuê thì hai bên hông lập thành văn bản mà ch thỏa thuận miệng với nhau giá 220.000đ/1 giờ sử d ng máy. Sau khi ông Đ ết thúc công việc ngày 22/3/2014 thì hoảng 18 giờ cùng ngày ông D2 đã đốt cỏ vườn rồi bỏ đi về dẫn đến hậu quả chiếc máy đào để lại tại vườn đã bị cháy toàn bộ. Do các bên hông thống nhất được về số tiền bồi thường thiệt hại nên phát sinh tranh chấp. Cấp s thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm” là đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của ông Đ thì thấy rằng:

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất số tiền 200.000.000đ, tại phiên t a hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đ n rút háng cáo. Xét thấy, việc rút phần háng cáo này của đai diện nguyên đ n là hoàn toàn t nguyện và đúng pháp luật nên đình ch .

Đối với yêu cầu bồi thường giá trị chiếc xe máy múc bị cháy: Theo hồ s thể hiện, tại biên bản v việc ngày 23/3/2014 của Công an xã A (bút l c số 05) ông D2 thừa nhận mình là người đốt cỏ vườn cà phê n i ông D2 để máy đào. Đồng thời, ông cũng đồng hắc ph c hậu quả do cháy vườn gây ra. Mặt hác, theo ết quả điều tra xác minh của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện B thì sau hi đốt cỏ vườn cà phê, ông D2 hông lại vườn đến hi lửa tắt hẳn mà bỏ về nhà dẫn đến không kiểm soát được đám cháy nên đã để lửa cháy lan rộng làm cháy hoàn toàn chiếc máy đào của ông Đ. Như vậy, ông D2 có lỗi vô làm cho chiếc xe máy múc của ông Đ bị cháy nên phải bồi thường.

Về giá trị chiếc xe, quá trình giải quyết v án nguyên đ n cung cấp bản chính “giấy bán máy đào” nội dung thể hiện: Ngày 25/12/2013 ông D1 Văn Minh có bán lại cho ông Đ ½ giá trị máy đào là phần góp vốn của ông Minh trước đây cùng ông Đ mua chung máy đào với giá 100.000.000đ, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Đă Wil, huyện Cư-Jút, t nh Đắ Nông (BL 180). Trên th c tế tại thời điểm xảy ra cháy, máy đào đang được ông Đ hai thác sử d ng cho thuê với giá 220.000đ/1 giờ nên có căn cứ xác định trị giá chiếc xe bị cháy sau hi mua đã được sửa chữa có giá 200.000.000đ. Tuy nhiên, do máy đã hoạt động được h n 1 năm và quá trình làm việc tại C quan công an xã A thì ông Đ ch yêu cầu ông D2 bồi thường số tiền 100.000.000đ (BL số 43). Do đó, có căn cứ buộc ông D2 phải bồi thường cho ông Đ giá trị chiếc máy đào bị cháy số tiền 100.000.000đ là thỏa đáng.

Đối với chiếc xe máy đào đã bị cháy hông hoạt động được, ch bán phế liệu cấp s thẩm đã giao cho ông D2 là phù hợp.

Từ những phân tích trên, cần chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của ông Đ, sửa bản án s thẩm theo hướng đã nhận định.

Về án phí: Do sửa án nên ông Đ không phải chịu án phí dân s phúc thẩm. Các đư ng s phải chịu án phí dân s s thẩm theo quy định, c thể:

Ông Đỗ Văn D2 phải chịu án phí dân s s thẩm trên số tiền phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn Đ là: 100.000.000đ x 5% = 5.000.000đ.

Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí dân s s thẩm trên số tiền hông được chấp nhận là: 80.000.000đ x 5% = 4.000.000đ. Tuy nhiên, ông Đ là người cao tuổi theo quy định của Luật người cao tuổi nên căn cứ điểm đ, hoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về án phí, lệ phí, ông Đ được miễn án phí. Hoàn trả cho ông Đ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ hoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân s .

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về án phí, lệ phí T a án.

Chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, sửa bản án s thẩm. Xử:

1. Đình ch háng cáo của ông Nguyễn Văn Đ đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).

2. Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của ông Nguyễn Văn Đ về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm” đối với ông Đỗ Văn D2.

- Buộc ông Đỗ Văn D2 bồi thường cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).

- Ông Đỗ Văn D2 được quyền sử d ng 01 chiếc máy đào bánh xích hiệu KOMATSU PC 20UU-3: số hung 1163; số động c NO5618 đã bị cháy hoàn toàn ch c n hung sắt, hình thù ết cấu đã thay đổi nhiều, chiếc xe hông hoạt động được và ch bán phế liệu.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản: Buộc ông Đỗ Văn D2 phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 3.400.000đ (ba triệu bốn trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đ n yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án c n phải trả số tiền lãi, tư ng ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2, Điều 357 Bộ luật Dân s .

4. Về án phí:

Buộc ông Đỗ Văn D2 phải chịu 5.000.000đ án phí dân s s thẩm.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 5.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007451 ngày 13/11/2014 và 300.000đ theo biên lai số 0004954 ngày 03/11/2017 của Chi c c thi hành án dân s huyện B, t nh lâm Đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân s , thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân s . Thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s .

Bản án phúc thẩm có hiệu l c pháp luật ể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ