vanban.org

Bản án 22/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 25/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng H phạm tội “Làm nhục người khác” II. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 đĩa CD có video quay cảnh giao cấu giữa chị Mai Thị N và Hoàng H.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo H bị truy tố, xét xử về tội làm nhục người khác - phạm tội làm nhục người khác (điều 121 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? I. Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 121 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 22/2017/HSST
Ngày 25/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Công Nghĩa và bà Trần Thị Ngọc Lan.

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Phương Nhung- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2017/HSST ngày 16 tháng 6 năm 2017, đối với:

Bị cáo: Hoàng H, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1994; sinh trú quán: thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; trình độ học vấn: lớp 01/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Hoàng N và bà Hoàng Thị S; Vợ: Đinh Thị T; con: Hoàng Đình T, sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình từ ngày 04/4/2017 cho đến nay; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

- Người bị hại: chị Mai Thị N, sinh năm: 1999, nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Hoàng H bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Btruy tố về hành vi như sau:

Vào đầu tháng 11 năm 2016 thông qua mạng xã hội Facebook, Hoàng H quen biết và có quan hệ tình cảm với Mai Thị N. Đến khoảng cuối tháng 12 năm 2016, trong khi Hoàng H và chị Mai Thị N đang giao cấu với nhau trên thuyền máy đậu trước cổng chợ thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thì H lấy điện thoại hiệu OPPO loại R9 plus của mình quay lại cảnh giao cấu của hai người và cam đoan sẽ không phát tán cho ai xem. Hoàng H quay và lưu vào điện thoại được hai video, một video dài 6 phút 6 giây và một video dài 1 phút 56 giây. Đến khoảng đầu tháng 02 năm 2017, do nảy sinh mâu thuẫn ghen tuông với Mai Văn L nên Hoàng H sử dụng tài khoản facebook có tên “S” gửi video quay cảnh quan hệ tình dục giữa H và N dài 1 phút 56 giây cho tài khoản facebook có tên “ M” do Mai Văn L là chủ tài khoản Facebook. Sau đó, cũng xuất phát từ mâu thuẫn ghen tuông nên Hoàng H tiếp tục sử dụng tài khoản facebook của mình gửi video quay cảnh giao cấu giữa H và N dài 1 phút 56 giây cho tài khoản facebook có tên “C” (không xác minh được chủ tài khoản). Việc gửi video cho Lợi và tài khoản facebook có tên “C” của H đều nhằm mục đích hạ thấp danh dự, nhân phẩm, uy tín của Mai Thị N, làm N nhục nhã, xấu hổ không yêu ai được.

Khoảng cuối tháng 02 năm 2017, sau khi nhận được video do Hoàng H gửi đến, Mai Văn L đã sử dụng tài khoản facebook của mình gửi cho Phạm Văn H có tài khoản facebook “ CH” và Mai Văn Hcó tài khoản facebook “I”. Chủ tài khoản facebook có tên “C” sau khi nhận video do H gửi đến thì gửi cho Hoàng Thị Thanh P là bạn học của Mai Thị N. Sau khi xem video thì P đưa cho N xem.

Sau khi biết được H phát tán đoạn video ghi cảnh giao cấu của mình cho mọi người xem nên Mai Thị N không liên lạc với H nữa. Đến ngày 09 tháng 3 năm 2017, Mai Thị N đến trường học thì thấy Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị N, Hoàng Thị Thanh P và một số bạn học cùng lớp với N và mọi người trong trường bàn tán dị nghị về video quay cảnh giao cấu của Mai Thị N đăng tải trên mạng youtube. Ngày 10 tháng 3 năm 2017, Mai Thị N lên mạng xã hội thấy nhiều người bình luận chia sẻ liên quan đến video quay cảnh giao cấu của mình trên bản tin facebook nên N bỏ học ở nhà vì xấu hổ với thầy cô bạn bè. Ngày 14 tháng 3 năm 2017, Mai Thị N làm đơn tố cáo đề nghị xử lý hình sự đối với hành vi của Hoàng H.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã tiến hành truy tìm 01 điện thoại hiệu OPPO loại R9 plus màu đen là vật chứng của vụ án đã bị Hoàng H làm rơi ở bờ sông thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình nhưng không tìm thấy.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã tiến hành trích xuất và in ấn ra giấy một số tài liệu có hình ảnh và bình luận liên quan chị Mai Thị N từ tài khoản facebook có tên “S”. Đồng thời trích xuất đoạn video có nội dung quay cảnh giao cấu giữa chị Mai Thị N và Hoàng H sao lưu vào đĩa nén có ký hiệu CD và niêm phong theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 20/VKS- KT ngày 15 tháng 6 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B đã truy tố bị cáo Hoàng H về tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại Khoản 1 Điều 121 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 121; Điểm h,p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự: phạt bị cáo Hoàng H từ 09 đến 12 tháng tù. Về vật chứng vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 đĩa CD có video quay cảnh giao cấu giữa chị Mai Thị N và Hoàng H.

Bị cáo Hoàng H nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bị hại chị Mai Thị N yêu cầu Tòa án xét xử nghiêm đối với hành vi của bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Hoàng H đã thống nhất khai nhận: Vì mục đích hạ thấp danh dự của chị N, để chị N không chấm dứt quan hệ tình cảm với mình nên Hoàng H đã có hành vi gửi đoạn video có nội dung ghi hình ảnh cảnh giao cấu của mình với chị Mai Thị N do chính bị cáo quay video trong khi đang thực hiện hành vi giao cấu với chị N, cho nhiều người xem. Xét lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, về thời gian, địa điểm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Hoàng H phạm tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại khoản 1 Điều 121 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, không chỉ xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người bị hại mà còn gây tâm lý bất bình đối với phía gia đình người bị hại và quần chúng nhân dân trên địa phương nói riêng và của xã hội nói chung.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có vợ con, có nhận thức và hiểu biết pháp luật nhất định nhưng không chịu khó rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để trở thành người công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội mà ngược lại do thích chơi bời, lêu lỏng, muốn thoả mãn nhu cầu tình dục của mình, ích kỉ của bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo vi phạm thuần phong mỹ tục và đạo đức gia đình, vợ chồng, vi phạm quy định của pháp luật, thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Làm nhục người khác” được quy định tại khoản 1 Điều 121 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần phải xét xử nghiêm, quyết định mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Đồng thời cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có điều kiện sửa chữa, tu dưỡng, rèn luyện mình trở thành người công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng. Mặt khác, hành vi phạm tội của bị cáo có phần lỗi của người bị hại, xuất phát từ lối sống buông thả của bản thân và thiếu sự quản lý chặt chẽ, giáo dục của gia đình.

Liên quan trong vụ án này có Mai Văn L đã có hành vi phát tán đoạn video có nội dung trên cho anh Phan Văn H và Mai Văn H, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B tách hồ sơ tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng có tài khoản Facebook có tên “C” sau khi nhận video quay cảnh quan hệ tình dục của chị N do Hoàng H gửi qua đã phát tán video có nội dung trên cho Hoàng Thị Thanh P theo tài khoản Facebook của P. Tuy nhiên, qua xác minh chị P và chị Mai Thị N đều không rõ họ tên địa chỉ của đối tượng này, hiện đối tượng đã xóa tài khoản Facebook có tên “C” nên không thể triệu tập lấy lời khai làm rõ.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra; truy tố và tại phiên tòa người bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã tiến hành truy tìm 01 điện thoại hiệu OPPO loại R9 plus màu đen là vật chứng của vụ án đã bị Hoàng H làm rơi ở bờ sông thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình nhưng không tìm thấy nên không có cơ sở để xử lý.

Về án phí: Bị cáo Hoàng H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng H phạm tội “Làm nhục người khác”

Áp dụng Khoản 1 Điều 121; điểm h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Hoàng H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

II. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 đĩa CD có video quay cảnh giao cấu giữa chị Mai Thị N và Hoàng H.

III. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét

IV.Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

Án xử sơ thẩm bị cáo; người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/7/2017).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ