vanban.org

Bản án 22/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 11/08/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V.

Tuyên xử: Buộc ông Nguyễn Thành M có nghĩa vụ trả cho Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V số tiền 42.068.164 đồng (Bốn mươi hai triệu không trăm sáu mươi tám nghìn một trăm sáu mươi bốn đồng). Trong đó, nợ gốc là 31.267.726 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng Ngân hàng V và Nguyễn Thành M"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND QUẬN LIÊN CHIỂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2017/DS-ST
Ngày: 11 tháng 8 năm 2017
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Sỹ

2. Bà Huỳnh Thị Lệ

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 11 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2017/TLST- DS ngày 30 tháng 3 năm 2017 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2017/QĐXX-ST ngày 11 tháng 07 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2017/QĐ- DSST ngày 26 tháng 07 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V.

Địa chỉ: Tầng 2 tòa nhà REE Tower, số 09 đường Đ, phường 12, quận 4, TP Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Lô Bằng Gi – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn H – sinh năm 1993; trú tại: số 77 T, phường HCN, quận H, thành phố Đà Nẵng (theo văn bản ủy quyền số 10/UQ-QTRR.17 ngày 09.02.2017 của ông Lô Bằng Gi – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V; Văn bản ủy quyền số 7/UQTT-QTRR.17 ngày 20.02.2017 của ông Lê Hiền Th – chức vụ: Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý - Trung tâm thu hồi nợ- Khối quản trị rủi ro - Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V). (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành M – sinh năm 1975.

Trú tại: số 573 AC, phường HK, quận L, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà hôm nay, ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H trình bày:

Vào ngày 30.11.2015, ông Nguyễn Thành M có ký hợp đồng tín dụng số 20151130-112030-0011 với Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V vay số tiền 33.000.000 đồng, với lãi suất vay 4.59 %/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, ông Nguyễn Thành M có trách nhiệm thanh toán số tiền 45.457.634 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 14 tháng (từ 30.11.2015-03.02.2017), phương thức cho vay: trả góp, 13 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 3.246.974 đồng, tháng cuối cùng trả 3.246.972 đồng. Kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 03.01.2016. Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty 01 kỳ với số tiền 3.246.974 đồng (gồm: 1.732.274 đồng tiền gốc; 1.514.700 đồng tiền lãi). Kể từ ngày 12.01.2016, ông Nguyễn Thành M không thanh toán bất kì khoản nào dù Công ty đã nhắc nhở nhiều lần.

Vì vậy, Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Thành M phải trả ngay toàn bộ số tiền còn nợ là 42.068.164 đồng; trong đó gốc tới hạn là 31.267.726 đồng, và lãi tới hạn là 10.800.438 đồng.

Bị đơn là ông Nguyễn Thành M không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 05.05.2017; không tham gia phiên hòa giải vào ngày 15.06.2017 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V và ông Nguyễn Thành M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208; 209; 210; 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, không có đương sự nào xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn ông Nguyễn Thành M vắng mặt tại phiên toà không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V đối với ông Nguyễn Thành M thì thấy:

Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V khẳng định có cho ông Nguyễn Thành M vay số tiền 33.000.000 đồng, với lãi suất 4.59%/tháng để tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 14 tháng, phương thức cho vay: trả góp. Ông M đã nhận đủ số tiền vay là 33.000.000 đồng và có trách nhiệm thanh toán số tiền 45.457.634 đồng (bao gồm cả gốc và lãi), lãi được tính từ ngày 30.11.2015 - 03.02.2017. Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V cung cấp chứng cứ chứng minh là Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151130-112030-0011 ngày 30.11.2015 được ký kết giữa Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V và ông Nguyễn Thành M. Tuy nhiên, đã quá thời hạn theo hợp đồng nhưng ông Nguyễn Thành M mới chỉ thanh toán cho Ngân hàng 01 lần với số tiền 3.246.974 đồng (gồm: 1.732.274 đồng tiền gốc; 1.514.700 đồng tiền lãi) và còn nợ tổng số tiền là 42.068.164 đồng; trong đó gốc tới hạn là 31.267.726 đồng, và lãi tới hạn là 10.800.438 đồng. Do đó, Công ty TNHH một thành viên Ngân hàng V yêu cầu ông Nguyễn Thành M phải thanh toán dứt điểm toàn bộ số tiền còn nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Thành M, mặc dù đã được Toà án thông báo về yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V trong thông báo thụ lý và nội dung những vấn đề hoà giải trong các thông báo hoà giải nhưng đã không có ý kiến, không xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả số tiền còn nợ nguyên đơn, cũng như không phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX công nhận việc ông Nguyễn Thành M nợ Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V tổng cộng số tiền 42.068.164 đồng, trong đó gốc tới hạn là 31.267.726 đồng và lãi tới hạn là 10.800.438 đồng là đúng.

HĐXX xét thấy giao dịch dân sự giữa Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V và ông Nguyễn Thành M là không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Ông Nguyễn Thành M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng nên việc Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông M thanh toán số tiền 42.068.164 đồng (Bốn mươi hai triệu không trăm sáu mươi tám nghìn một trăm sáu mươi bốn đồng); trong đó, gốc tới hạn 31.267.726 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm hai mươi sáu đồng) và lãi tới hạn 10.800.438 đồng (Mười triệu tám trăm nghìn bốn trăm ba mươi tám đồng) là có cơ sở phù hợp với quy định tại Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 nên HĐXX chấp nhận. Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V không yêu cầu tính lãi phát sinh từ ngày 04.02.2017 cho đến ngày xét xử sơ thẩm hôm nay nên tòa án không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì: ông Nguyễn Thành M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 42.068.164 đồng x 5 % = 2.103.408 đồng (Hai triệu một trăm lẻ ba nghìn bốn trăm linh tám đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V.

1.Tuyên xử: Buộc ông Nguyễn Thành M có nghĩa vụ trả cho Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V số tiền 42.068.164 đồng (Bốn mươi hai triệu không trăm sáu mươi tám nghìn một trăm sáu mươi bốn đồng). Trong đó, nợ gốc là 31.267.726 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm hai mươi sáu đồng) và nợ lãi là 10.800.438 đồng (Mười triệu tám trăm nghìn bốn trăm ba mươi tám đồng).

Bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ sau ngày tuyên bản án sơ thẩm đối với khoản nợ gốc cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151130-112030-0011 ngày 30.11.2015.

2. Án phí Dân sự sơ thẩm: 2.103.408 đồng (Hai triệu một trăm lẻ ba nghìn bốn trăm linh tám đồng) ông Nguyễn Thành M phải chịu.

Hoàn trả lại cho Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V số tiền 1.051.704 đồng (Một triệu không trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm linh bốn đồng) tạm ứng án phí DS-ST đã nộp theo biên lai thu số 0006886 ngày 30 tháng 3 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ