vanban.org

Bản án 219/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Cho chị Quách Thị Y được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Về con: Giao người con Nguyễn Y N1, sinh ngày 06/7/2009 cho anh Nguyễn Văn C tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Quách Thị Y có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Quách Thị Y yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 219/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18-12-2023
V/v “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quang Minh Nghiêm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lil, bà Đỗ Kim Phụng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Kha là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên toà: Ông Châu Hoa Đăng – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 549/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Quách Thị Y, sinh năm 1981.

Địa chỉ: ấp 2, xã LĐĐ A, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1976.

Địa chỉ: ấp 2, xã LĐĐ A, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

(chị Y vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28/9/2023, trong quá trình tố tụng chị Quách Thị Y trình bày:

Về hôn nhân: Chị với anh C chung sống vào năm 1998, hôn nhân tự nguyện, được cha mẹ tổ chức đám theo phong tục tại địa phương và đến Uỷ ban nhân dân xã LĐĐ A, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đăng ký kết hôn ngày 27/7/2010.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2018 đến nay vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc nên đã sống ly thân. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điềm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau, không tìm được tiếng nói chung. Trong thời gian sống ly thân chị và anh C không gặp lại để hòa giải mâu thuẫn. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, chung sống không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn.

Về con: Chị và anh C có 03 người con chung: Người con Nguyễn Vũ L, sinh năm 1999 và Nguyễn Vũ N, sinh năm 2000 đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết; người con Nguyễn Y N1, sinh năm 2009 đang sống cùng anh C, khi ly hôn chị đồng ý giao con cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết;

Anh Nguyễn Văn C vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu phát biểu: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo giấy triệu tập của Tòa án.

Ý kiến về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Năm 1998, chị Y và anh C tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa chị Y và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân của chị Y và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị Y được ly hôn với anh C là phù hợp.

Về con: Xét thấy người con Nguyễn Y N1, sinh ngày 06/7/2009 đang sống cùng anh C, chị Y đồng ý giao con cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng nên tiếp tục giao con cho anh C nuôi là phù hợp. Chị Y có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Người con Nguyễn Vũ L, sinh năm 1999 và Nguyễn Vũ N, sinh năm 2000 đã thành niên nên không xem xét.

Về tài sản: Chị Y không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí đương sự nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Quách Thị Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn C, anh C có địa chỉ cư trú tại ấp 2, xã LĐĐ A, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Chị Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh C được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị Y và anh C.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân: Năm 1998, chị Y và anh C tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LĐĐ A, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống giữa chị Y và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau, hiện nay chị Y xác định mâu thuẫn giữa chị và anh C đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống giữa chị Y và anh C không thực hiện được mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh C đến tham dự phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh C vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy hôn nhân của chị Y và anh C đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị Y được ly hôn với anh C là phù hợp.

. Về con: Xét thấy người con Nguyễn Y N1, sinh ngày 06/7/2009 đang sống cùng anh C, chị Y đồng ý giao con cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng. Để ổn định cuộc sống của trẻ nên tiếp tục giao con cho anh C nuôi là phù hợp. Chị Y có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Người con Nguyễn Vũ L, sinh năm 1999 và Nguyễn Vũ N, sinh năm 2000 đã thành niên nên không xem xét.

. Về tài sản: Chị Y không yêu cầu nên không xem xét.

. Về án phí: Chị Y nộp 300.000 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Quách Thị Y được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

2. Về con: Giao người con Nguyễn Y N1, sinh ngày 06/7/2009 cho anh Nguyễn Văn C tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Quách Thị Y có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Chị Quách Thị Y không đặt ra cấp dưỡng nên không xem xét.

Người con Nguyễn Vũ L, sinh năm 1999 và Nguyễn Vũ N, sinh năm 2000 đã thành niên nên không xem xét.

3. Về tài sản: Chị Quách Thị Y không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm hôn nhân: Chị Quách Thị Y nộp 300.000 đồng, chị Quách Thị Y đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009562 vào ngày 09/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí.

Án xử công khai, chị Quách Thị Y, anh Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ