- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết H được ly hôn với ông Đặng Hoàng T.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 219/2023/HN-ST Ngày: 23- 03 - 2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Phạm Thị Lệ Hà
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Đẹp
2. Bà Trần Thị Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Lâm Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Vào ngày 23 tháng 03 năm 2023 tại phòng xử Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1280/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm số 36/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2023, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1980 (Vắng mặt);
Địa chỉ: huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Đặng Hoàng Thành, sinh năm 1979 (Vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ cư trú hiện nay: huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN THẤY:
* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 9 năm 2022 và Bản tự khai ngày 25 tháng 10 năm 2022 và tại các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H trình bày:
Bà và ông Đặng Hoàng T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2001 tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2021, cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau, ông T không ở nhà, không chăm sóc gia đình, vợ chồng ly thân cho đến nay. Chúng tôi không còn tình cảm và chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn được. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Đặng Hoàng T.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Thành T1 (sinh ngày 28/7/2002, đã trưởng thành) và Đặng Thanh Thiện (sinh ngày 28/9/2007). Bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đặng Thanh Thiện và không yêu cầu ông Đặng Hoàng T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nghĩa vụ dân sự (nợ chung): Không có. Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành hòa giải không thành và mở phiên tòa xét xử. Tại phiên tòa: Các đương sự vắng mặt nên không thỏa thuận, hòa giải với nhau về việc giải quyết vụ án và không ai cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý sơ thẩm và xét xử. Về nội dung: Bà H và ông T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, mâu thuẫn hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Thành T1 (sinh ngày 28/7/2002, đã trưởng thành) và Đặng Thanh Thiện (sinh ngày 28/9/2007). Tại Bản tự khai ngày 25/10/2022 hiện nay trẻ đang sống với mẹ và có nguyện vọng ở với mẹ nên yêu cầu nuôi cháu Thiện có cơ sở chấp nhận. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Không có. Căn cứ Điều 19, 56, 58, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: [1.1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Đặng Hoàng T hiện đang cư trú tại địa chỉ: huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật vụ án là “Tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. [1.2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H có Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 05 tháng 01 năm 2023. Bị đơn ông Đặng Hoàng T, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện tống đạt hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Đặng Hoàng T tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 431 Quyển số 03/2001 ngày 22 tháng 11 năm 2001 nên là hôn nhân hợp pháp.
Về yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Tuyết H,
Bà Nguyễn Thị Tuyết H trình bày từ năm 2021, vợ chồng bà chung sống không hạnh phúc và sống ly thân, nay bà H xác nhận không còn tình cảm với ông T. Bị đơn ông Đặng Hoàng T dù đã được Tòa án thông báo yêu cầu xin ly hôn của bà H nhưng ông không phản hồi, không thể hiện ý chí muốn hàn gắn đoàn tụ, điều này cho thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết H xin ly hôn ông Đặng Hoàng T là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung:
Bà Nguyễn Thị Tuyết H khai có 02 con chung tên Đặng Thành T1 (sinh ngày 28/7/2002, đã trưởng thành) và Đặng Thanh Thiện (sinh ngày 28/9/2007).
Theo Kết quả xác minh của Uỷ ban nhân dân xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 24 tháng 11 năm 2022: Con chung Đặng Thanh Thiện, sinh năm 2007 hiện đang sống chung với bà H tại xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn.
Theo Bản ý kiến ngày 25 tháng 10 năm 2022 của trẻ Đặng Thanh Thiện trình bày, trẻ Thiện đang sống với bà H, được chăm sóc tốt và có nguyện vọng ở với mẹ.
Xét trẻ Đặng Thanh Thiện đã ở cùng với bà H từ nhỏ được chăm sóc, giáo dục tốt và có nguyện vọng tiếp tục ở với bà Nguyễn Thị Tuyết H. Để ổn định cuộc sống và việc học tập, cần tiếp tục giao trẻ Đặng Thanh Thiện cho bà Nguyễn Thị Tuyết H nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 58 và Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Ghi nhận bà Nguyễn Thị Tuyết H không yêu cầu ông Đặng Hoàng T cấp dưỡng nuôi con, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Đặng Hoàng T.
Vì lợi ích con chung, sau khi ly hôn bên không trực tiếp nuôi con có quyền qua lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này, khi cần thiết có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi việc nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con. [2.4] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết H không yêu cầu Toà án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. [2.5] Về nghĩa vụ dân sự (nợ chung): Bà Nguyễn Thị Tuyết H khai không có, và không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. [3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 267 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H;
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết H được ly hôn với ông Đặng Hoàng T.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Đặng Hoàng T có 02 con chung tên Đặng Thành T1 (sinh ngày 28/7/2002, đã trưởng thành) và Đặng Thanh Thiện (sinh ngày 28/9/2007). Giao con chung tên Đặng Thanh Thiện (sinh ngày 28/9/2007) cho bà Nguyễn Thị Tuyết H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận bà Nguyễn Thị Tuyết H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Đặng Hoàng T đến khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Nguyễn Thị Tuyết H không yêu cầu Toà án giải quyết;
- Về nghĩa vụ dân sự (nợ chung): Bà Nguyễn Thị Tuyết H khai không có và Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Tuyết H phải nộp 300.000(ba trăm ngàn)đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2022/0014977 ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Tuyết H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; - Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; - Uỷ ban nhân dân xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Lệ Hà |