vanban.org

Bản án 219/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Danh L phạm Tội chống ngƣ i thi hành công vụ và Tội cố ý gây thƣơng tích.

Xử phạt bị cáo Danh L 01 (Một) năm tù về Tội chống ngƣ i thi hành công vụ. Xử phạt bị cáo Danh L 03 (Ba) năm tù về Tội cố ý gây thƣơng tích. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DANH L - TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH VÀ CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người kh…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Danh L phạm Tội chống ngƣ i thi hành công vụ và Tội cố ý gây thƣơng tích.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 219/2021/HS-ST
Ngày 22-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Ông Từ Anh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thắng Lợi, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2021 tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 184/2021/HSST ngày 17 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 234/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Danh L, sinh năm 1994 tại tỉnh Kiên Giang; thƣ ng tr : Ấp V, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Khmer; con ông Danh K, sinh năm 1971 và bà Thị L, sinh năm 1973; bị cáo có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/4/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 tháng tù về Tội gây rối trật tự công cộng theo Bản án số 24/2017/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2018.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2021 cho đến nay. Bị cáo có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1997; địa chỉ: 12/10 khu phố T, phƣ ng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Cao S, sinh năm 2001;

2. Anh Nguyễn Minh L, sinh năm 1999;

3. Anh Đặng Minh V, sinh năm 1997;

4. Anh Châu Tấn Đ, sinh năm 1993;

5. Anh Lê Nguyễn Tấn C, sinh năm 1998;

6. Anh Huỳnh Thành L, sinh năm 2000;

7. Anh Lê Văn T, sinh năm 1996;

Những ngƣ i làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 16 gi ngày 13/3/2021, bị cáo Danh L cùng anh Danh K và anh Huỳnh Thanh L đi uống rƣợu với bạn. Đến khoảng 20 gi cùng ngày, bị cáo đƣợc bạn chở về phòng trọ tại khu phố 1B, phƣ ng An Ph , thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng ngủ. Đến khoảng 23 gi cùng ngày, anh Danh K cùng anh Huỳnh Thành L và một ngƣ i tên L điều khiển xe mô tô đi về thì xảy ra va chạm với một nhóm thanh niên và bị nhóm thanh niên này bẻ biển số xe. Sau đó, anh Danh K cùng anh Huỳnh Thanh L về phòng trọ kể lại sự việc cho bị cáo. Bị cáo cầm 01 con dao dài 50cm, cán dao bằng kim loại dài 13cm, anh Danh K và Huỳnh Thanh L mỗi ngƣ i cầm 01 con dao đi bộ ra khu vực xảy ra va chạm xe tìm đánh nhóm thanh niên.

Khoảng 23 gi 10 ph t cùng ngày, lực lƣợng dân quân phƣ ng Tân Bình gồm các đồng chí Nguyễn Văn P, Nguyễn Cao S, Lê Nguyễn Tấn C, Châu Tấn Đ, Đặng Minh V và Nguyễn Minh L đi tuần tra trên địa bàn phƣ ng Tân Bình, thành phố Dĩ An. Khi lực lƣợng tuần tra đến khu vực ngã ba xe ngựa thuộc khu phố Tân Hiệp, phƣ ng Tân Bình, thành phố Dĩ An thấy bị cáo cùng anh Danh K, Huỳnh Thanh L đang cầm dao đứng giữa đƣ ng. Lực lƣợng dân quân yêu cầu bỏ dao xuống thì anh Danh K và Huỳnh Thanh L bỏ dao xuống, đứng yên tại chỗ, riêng bị cáo Danh L không chấp hành, cầm dao lao đến chém đồng chí Nguyễn Văn P 04 cái. Anh P đƣa dùi cui bằng cao su đỡ thì bị chém tr ng đứt gân tay trái, gãy hở xƣơng bàn ngón 5 tay trái, bị thƣơng khuỷu tay trái. Sau khi dùng dao chém anh P bị cáo bỏ chạy khoảng 50 mét thì bị bắt giữ cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 Con dao dài 50cm, cán dao kim loại dài 13cm;

- 01 Cây gậy mủ sao su màu đen dài 40cm;

- 01 Con dao bằng kim loại, dài khoảng 40cm, màu đen, cán gỗ, mũi dao bằng, bản dao rộng khoảng 06cm;

- 01 Con dao bằng kim loại, dài khoảng 30cm, màu trắng, cán bằng nhựa, mũi dao nhọn.

Theo bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0310/TgT/2021 ngày 19/4/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đồng Nai kết luận thƣơng tích của anh Nguyễn Văn P nhƣ sau:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tổn thƣơng gãy xƣơng bàn V tay trái đã phẫu thuật kết hợp xƣơng. Tỷ lệ 10%.

- Tổn thƣơng nứt nền xƣơng bàn IV bàn tay trái. Tỷ lệ 02%.

- Sẹo vùng khuỷu phải kích thƣớc 5.5x0.4cm. Tỷ lệ 02%.

- Sẹo bàn tay trái kích thƣớc 8.5x0.3cm. Tỷ lệ 02%.

2. Kết luận: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại th i điểm giám định của anh Nguyễn Văn P là 15%.

Cáo trạng số 211/CT-VKS ngày 17/6/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Danh L về Tội chống ngƣ i thi hành công vụ quy định tại khoản 1 Điều 330 và Tội cố ý gây thƣơng tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Danh L mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về Tội chống ngƣ i thi hành công vụ.

Xử phạt bị cáo Danh L mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về Tội cố ý gây thƣơng tích.

Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 04 năm đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thƣ ng cho bị hại anh Nguyễn Văn P số tiền 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 50cm, cán dao kim loại dài 13cm; 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 40cm, màu đen, cán gỗ, mũi dao bằng, bản dao rộng khoảng 06cm; 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 30cm, màu trắng, cán bằng nhựa, mũi dao nhọn.

Trong quá trình điều tra bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ Cáo trạng đã truy tố. Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng ý bồi thƣ ng cho bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣ i tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, ngƣ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣ i làm chứng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣ i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bị cáo có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo là đ ng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 23 gi 10 phút, ngày 13/3/2021 tại khu vực ngã ba Xe ngựa thuộc khu phố Tân Hiệp, phƣ ng Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng bị cáo Danh L có hành vi dùng dao đứng giữa đƣ ng, khi đƣợc lực lƣợng tuần tra nhắc nhở bị cáo không chấp hành, bị cáo dùng dao gây thƣơng tích cho anh Nguyễn Văn P thuộc lực lƣợng tuần tra phƣ ng Tân Bình, thành phố Dĩ An với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể theo kết luận giám định là 15%.

Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo Danh L đã đủ yếu tố cấu thành Tội chống ngƣ i thi hành công vụ quy định tại khoản 1 Điều 330 và Tội cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 211/CT - VKS ngày 17 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đ ng ngƣ i, đ ng tội và đ ng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền hoạt động bình thƣ ng, đ ng đắn của ngƣ i đƣợc giao nhiệm vụ công vụ và đƣợc pháp luật bảo vệ, gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe của bị hại và gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣ i có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chống đối ngƣ i thi hành công vụ và gây thƣơng tích cho ngƣ i khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣ i có nhân thân xấu thể hiện năm 2017 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 tháng tù, sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo vẫn phạm tội mới.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn P yêu cầu bị cáo bồi thƣ ng số tiền 20.000.000 đồng. Q a trình điều tra và tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị cáo đồng ý bồi thƣ ng cho anh P số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tƣ pháp:

Đối với 01 con dao dài 50cm, cán dao kim loại dài 13cm; 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 40cm, màu đen, cán gỗ, mũi dao bằng, bản dao rộng khoảng 06cm; 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 30cm, màu trắng, cán bằng nhựa, mũi dao nhọn liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với hành vi của anh Danh K và anh Huỳnh Thanh L không tham gia chống ngƣ i thi hành công vụ và cố ý gây thƣơng tích tuy nhiên có hành vi tàng trữ hung khí nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra quyết định xử phạt hành chính mỗi ngƣ i với số tiền 2.500.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có th i hạn đối với bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có cơ sở chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Danh L phạm Tội chống ngƣ i thi hành công vụ và Tội cố ý gây thƣơng tích.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Danh L 01 (Một) năm tù về Tội chống ngƣ i thi hành công vụ.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Danh L 03 (Ba) năm tù về Tội cố ý gây thƣơng tích.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự

Tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm tù về Tội chống ngƣ i thi hành công vụ và 03 (Ba) năm tù về Tội cố ý gây thƣơng tích. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (Bốn) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 13/3/2021.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Áp dụng Điều 584 và Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Danh L phải bồi thƣ ng cho anh Nguyễn Văn P số tiền 20.000.000 đồng (Hai mƣơi triệu đồng).

Kể từ ngày ngƣ i đƣợc yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣ i phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng ngƣ i phải thi hành án còn phải chịu mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tƣơng ứng với số tiền và th i gian chậm thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 50cm, cán dao kim loại dài 13cm; 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 40cm, màu đen, cán gỗ, mũi dao bằng, bản dao rộng khoảng 06cm; 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 30cm, màu trắng, cán bằng nhựa, mũi dao nhọn.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣ ng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Danh L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo và bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mƣ i lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc Bản án hoặc kể từ ngày Bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trƣ ng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣ i đƣợc thi hành án dân sự, ngƣ i phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, th i hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ