vanban.org

Bản án 219/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 29/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Biện Văn K (Chọt) và Trần Văn H (H chín ngón) phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Biện Văn K (Chọt) 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H (H chín ngón) 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Biện Văn Kiên + Trần Văn Hùng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Biện Văn K (Chọt) và Trần Văn H (H chín ngón) phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 181/2018/NQ-HĐND Quy định mức chi đào tạo, bồi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 219/2018/HS-ST
Ngày 29 - 11- 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chiến

Bà Trương Ánh Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hân - Là Thư ký Toà án nhân dân

thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Em - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 217/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 830/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Biện Văn K, sinh năm 1999; tên gọi khác: Chọt; nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Biện Văn V, sinh năm 1975; con bà: Bùi Thị P, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 26/01/2016, bị Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ.XPVPHC bằng hình thức phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 04/9/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố C ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 186/2018/QĐ-TA với thời gian chấp hành là 15 tháng.

Bị cáo Biện Văn K đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau thuộc ấp 1, xã B, huyện U , tỉnh Cà Mau cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: Trần Văn H, sinh năm 1999; tên gọi khác: H chín ngón; nơi cư trú: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1970, Trần Thị Hu, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án hình sự số 213/2014/HS-ST ngày 30/9/2014 của Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”.

Tại bản án hình sự số 242/2014/HS-ST ngày 13/11/2014 của Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong ngày 26/4/2018.

Ngày 31/8/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố C ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 181/2018/QĐ-TA với thời gian chấp hành là 18 tháng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Lê Văn N - sinh năm 1994

(có mặt).

Nơi cư trú: Khóm 2, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/7/2018, Biện Văn K điều khiển xe Exciter màu đen xanh, không biển số đến phòng trọ của Trần Văn H ở khóm 2, phường 8, thành phố Cà Mau để rủ H đi tìm tài sản chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài, thì H đồng ý. Khi đến khu nhà trọ Đình Cẩn thuộc khóm 2, phường Tân Thành, thành phố Cà Mau cả hai dừng lại, H đứng canh đường còn K vào trong tìm tài sản chiếm đoạt. K nhìn qua khe hở phòng trọ số 23 do anh Lê Văn N thuê, thấy anh N đang nằm ngủ, dưới nền gạch có để 01 điện thoại di động đang sạc pin. K đến sào phơi quần áo trong nhà trọ, lấy 02 cái móc bẻ thẳng ra và nối lại làm dụng cụ mốc điện thoại. Sau khi móc được điện thoại, K đi ra ngoài gặp H, cả hai cùng lên xe chạy đi. Khi đến giữa cầu Cái Nhúc, K và H lấy sim điện thoại ra ném xuống sông, rồi cả hai chạy về phòng trọ của H ở khóm 2, phường 8, thành phố Cà Mau.

Đến khoảng 08 giờ ngày 22/7/2018, K mang điện thoại đã chiếm đoạt của anh N đi bán cho 01 người phụ nữ đi đường tại khu vực phường 6, thành phố Cà Mau với giá 3.500.000 đồng. K chia cho H 240.000 đồng, số tiền còn lại K cất giữ để ăn uống chung. Hiện sim và điện thoại không thu hồi được.

Đối với anh Lê Văn N sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại di động hiệu SAMSUNG A8 + màu đen, đã đến Công an phường Tân Thành, thành phố Cà Mau trình báo sự việc.

Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô hiệu YAMAHA Exciter màu đen xanh không có biển số, có số máy là 5P71043674, số khung 10AY043672 là của anh Nguyễn Tấn L. Ngày 22/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã tiến hành trả lại xe trên cho anh Nguyễn Tấn L.

Tại kết luận định giá số 150/KL-HĐĐG ngày 10/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cà Mau, kết luận: Tính vào thời điểm tháng 7/2018, 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A8 + màu đen, giá trị còn lại 80%: 13.490.000 đồng x 80% = 10.792.000 đồng.

Về dân sự: Bị hại Lê Văn N yêu cầu bị cáo Biện Văn K và Trần Văn H liên đới bồi thường điện thoại cho anh số tiền 5.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 212/CT-VKS ngày 12/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo Biện Văn K (Chọt) và Trần Văn H (H chín ngón) về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Biện Văn K (Chọt) và Trần Văn H (H chín ngón). Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Biện Văn K (Chọt) từ 12 đến 15 tháng tù; xử phạt Trần Văn H (H chín ngón) từ 09 tháng đến 12 tháng tù; buộc bị cáo Biện Văn K và Trần Văn H mỗi bị cáo bồi thường cho anh N số tiền 2.500.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 22/7/2018, tại khu nhà nhọ Đình Cẩn thuộc khóm 2, phường Tân Thành, thành phố Cà Mau bị cáo Biện Văn K và Trần Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Lê Văn N 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A8+ màu đen. Giá trị tài sản 02 bị cáo chiếm đoạt của bị hại theo kết quả định giá là 10.792.000 đồng.

Tại phiên toà bị cáo K và H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Xét lời khai nhận của 02 bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của 02 bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Biện Văn K và Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo K và H là nguy hiểm cho xã hội. 02 bị cáo là người có đủ nhận thức, biết được hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật xử lý. Nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà các bị cáo bất chấp hậu quả để phạm tội. Các bị cáo có nhân thân xấu, do đó cần áp dụng mức án nghiêm, tương xứng với hành vi của các bị cáo đã gây ra.

Xét về tính chất, mức độ phạm tội thì vai trò của bị cáo K lớn hơn của bị cáo H. K là người khởi xướng việc phạm tội, là người điều khiển phương tiện chở H đi tìm tài sản để chiếm đoạt và K là người trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại, do đó bị cáo K phải chịu mức hình phạt nặng hơn so với bị cáo H là phù hợp.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm án cho các bị cáo, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật là phù hợp.

Dân sự: Bị hại Lê Văn N xác định tài sản bị chiếm đoạt theo định giá tài sản là 10.792.000 đồng, tuy nhiên thấy hoàn cảnh 02 bị cáo khó khăn, nên bị hại tự nguyện giảm một phần yêu cầu bồi thường cho 02 bị cáo. Bị hại chỉ yêu cầu bị cáo K và H bồi thường thiệt thại về tài sản cho bị hại tổng số tiền là 5.000.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng. Xét yêu cầu của bị hại là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Tang vật: Ngày 22/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã tiến hành trả lại xe mô tô hiệu YAMAHA Exciter màu đen xanh không có biển số, có số máy là 5P71043674, số khung 10AY043672 cho anh Nguyễn Tấn L, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã có hành vi tố tụng, quyết định tố tụng đúng quy định.

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.

Tuyên bố: Bị cáo Biện Văn K (Chọt) và Trần Văn H (H chín ngón) phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Biện Văn K (Chọt) 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H (H chín ngón) 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Buộc bị cáo Biện Văn K (Chọt) và Trần Văn H (H chín ngón) liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Văn N, mỗi bị cáo bồi thường cho bị hại N số tiền 2.500.000 đồng.

Kể từ ngày anh Lê Văn N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Biện Văn K và Trần Văn H không thi hành xong khoản tiền trên thì bị cáo K, H còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án phí dân sự có giá ngạch mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ