vanban.org

Bản án 219/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/10/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng đặt cọc và hợp đồng vay tài sản"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân s; Điều 131 Bộ luật Dân s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 219/2018/DS-PT
Ngày: 31-10-2018
V/v tranh chấp hợp đồng đặt
cọc và hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Văn Minh

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thành Trung

Ông Nguyễn Trung Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chữ Cần – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đ i di n Vi n i m t nh n d n t nh nh Dư ng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước – i m sát vi n.

Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩm công khai v án dân s th lý số 200/2018/TLPT-DS ngày 05 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân s sơ thẩm số 62/2018/DS-ST ngày 28-6-2018 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương ị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 203/2018/QĐPT-DS ngày 27/9/2018 và Quyết định hoãn phi n tòa số 188/2018/QĐ-PT ngày 12/10/2018, giữa các đương s :

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1964; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 36C, khu phố 4, phường P, Quận X, Thành phố H; địa chỉ nơi cư trú: Số 4, đường số 8, phường P, Quận X, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà L Trần Vân A, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 113/90 (số cũ 25/4, đường 30/4, tổ 4, khu 6, phường P, thành phố T, tỉnh B, là người đại diện theo ủy quyền (Văn ản ủy quyền ngày 09/10/2018).

- Bị đơn: Ông Phạm Công D, sinh năm 1958;

Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1958;

C ng địa chỉ thường trú: Số 22/16 (số mới 14/3 , khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh B.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Cao Quang T, sinh năm 1986; nơi đăng ký hộ khẩu thưòng trú: Thôn N, xã C, huyện P, Thành phố H; địa chỉ tạm trú: Số 187/16 khu phố B, phường B, thị xã T, tỉnh B, là người đại diện theo ủy quyền (Văn ản ủy quyền ngày 29/01/2018 .

- Người háng cáo: Bị đơn - bà Nguyễn Thị H2.

NỘI D NG V N:

- Theo đơn h i iện và lời hai trong quá tr nh t t ng nguyên đơn bà V Thị H1 trình bày:

Ngày 14/4/2016, à Vũ Thị H1 và à Nguyễn Thị H2 ký hợp đồng đặt cọc về việc chuy n nhượng quyền sử d ng đất, diện t ch đất thỏa thuận chuy n nhượng là 400m2, thuộc một phần thửa đất 715, tờ ản đồ số 10 ấp B, xã A, huyện D (nay là khu phố B, phường A, thị xã D) do ông Phạm Công D là chồng à H2 đứng t n giấy chứng nhận quyền sử d ng đất; giá chuy n nhượng 3.000.000 đồng/m2, trị giá hợp đồng là 1.200.000.000 đồng. Bà H đặt cọc 100.000.000 đồng (trong đ c 7.000.000 đồng giao cho Luật sư Trần Quang T d ng đ chi ph làm giấy tờ nh m ảo đảm cho việc ký kết hợp đồng . Vì vậy, à H th c tế giao cho bà H2 93.000.000 đồng, số tiền còn lại à H phải thanh toán cho à H2 sau khi làm xong thủ t c chuy n nhượng đất. Bà H2 cam kết th c hiện đúng thủ t c chuy n nhượng diện t ch đất nêu trên cho à H1 , nếu th c hiện không đúng thì bà H2 ồi thường gấp đôi số tiền đặt cọc. Hợp đồng đặt cọc viết tay do hai n ký, không c công chứng, chứng th c. hoảng 3 đến 4 tháng sau, ông Trần Quang Tâm thông áo cho bà H2 iết là đất không tách thửa được vì không c đường đi, n n bà H2 không th c hiện hợp đồng nữa, đề nghị được trả lại tiền đặt cọc và xin bà H không phạt cọc. Vì vậy, ngày 24/7/2017 bà H2 hoàn trả cho bà H 20.000.000 đồng. Bà H nhận tiền không ghi i n nhận, nhưng sau đ theo y u cầu của à H2 thì bà H có ghi vào mặt sau của hợp đồng đặt cọc nội dung à H c nhận 20.000.000 đồng và số tiền à H2 còn phải trả lại là 73.000.000 đồng. Bà H pho to một ản nhờ chị Lý im P đem giao cho bà H ng.

Nguy n đơn kh i kiện y u cầu hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 14/4/2016; uộc vợ chồng à H, ông D trả lại tiền đặt cọc còn lại 80.000.000 và ồi thường tiền đặt cọc 100.000.000 đồng.

Ngày 14/4/2018, bà H nộp đơn rút một phần y u cầu kh i kiện (phần y u cầu phạt cọc ; chỉ y u cầu hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 14/4/2016; uộc vợ chồng à H, ông D trả lại số tiền đặt cọc là 73.000.000 đồng.

- Theo đơn ph n t và lời hai của bị đơn; người đại diện hợp pháp của bị đơn trong quá tr nh t t ng trình bày:

Bị đơn thống nhất với lời trình ày của nguy n đơn về nội dung thỏa thuận, hình thức hợp đồng đặt cọc chuy n nhượng đất giữa vợ chồng ị đơn ( à H2, ông D với à H1 , cũng như số tiền đặt cọc à H2 đã nhận là 100.000.000 đồng, trừ chi ph làm giấy tờ 7.000.000 đồng, còn 73.000.000 đồng. Bị đơn không chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn, i vì: hi thỏa thuận chuy n nhượng quyền sử d ng đất, bà H đã được ị đơn cung cấp thông tin về hiện trạng đất không c đường đi, không th tách thửa nhưng à H vẫn đồng ý nhận chuy n nhượng. Khi Luật sư Trần Quang T áo đất không th tách thửa, sang tên thì bà H là người y u cầu chấm dứt hợp đồng.

Tại phi n tòa sơ thẩm ị đơn và người đại diện hợp pháp của ị đơn đồng ý việc hủy hợp đồng đặt cọc.

Bị đơn c y u cầu phản tố xác định số tiền 20.000.000 đồng nguy n đơn nhận theo giấy ký nhận tiền ngày 27/7/2017 là tiền ị đơn cho nguy n đơn vay làm ăn, không phải tiền cọc ị đơn trả lại như nguy n đơn trình ày. Vì vậy, y u cầu Tòa án uộc nguy n đơn trả cho ị đơn 20.000.000 đồng tiền vay.

- Nguy n đơn trình ày về y u cầu phản tố: Nguy n đơn không chấp nhận y u cầu phản tố của ị đơn. Vì nguy n đơn không vay tiền của vợ chồng ị đơn, số tiền 20.000.000 đồng à H2 giao theo i n nhận tiền ngày 27/7/2017 là tiền ị đơn trả lại tiền đặt cọc chuy n nhượng quyền sử d ng đất cho nguy n đơn.

Bản án dân s sơ thẩm số 62/2018/DS-ST ngày 28-6-2018 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An đã quyết định:

1. Đình chỉ một phần y u cầu kh i kiện của nguy n đơn à Vũ Thị H1 đối với ông Phạm Công D và à Nguyễn Thị H2 về y u cầu ồi thường đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng.

2. Chấp nhận một phần y u cầu kh i kiện của nguy n đơn à Vũ Thị H1 đối với ông Phạm Công D và à Nguyễn Thị H2 về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

Hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 14/4/2016 giữa à Nguyễn Thị H2 và à Vũ Thị H1 .

Buộc ông Phạm Công D và à Nguyễn Thị H2 c trách nhiệm hoàn trả cho à Vũ Thị H1 số tiền cọc đã nhận còn lại là 73.000.000 đồng ( ảy mươi a triệu đồng .

3. Không chấp nhận y u cầu phản tố của ị đơn ông Phạm Công D và à Nguyễn Thị H2 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản với à Vũ Thị H1 .

Ngoài ra ản án còn tuy n về án ph và quyền kháng cáo của đương s .

Sau khi ản án sơ thẩm được tuy n, ị đơn à Nguyễn Thị H2 kháng cáo toàn ộ ản án sơ thẩm, y u cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng không chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn, chấp nhận y u cầu phản tố của ị đơn.

Tại phi n tòa phúc thẩm: Đại diện của ị đơn là ông Cao Quang T trình bày ý kiến ị đơn vẫn giữ nguy n y u cầu kháng cáo.

Đại diện của nguy n đơn là à L Trần Vân A trình ày ý kiến nguy n đơn đề nghị không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ị đơn, giữ nguy n ản án sơ thẩm. Các đương s không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết v án.

Đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát i u quan đi m: Những người tiến hành tố t ng và tham gia tố t ng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã th c hiện đúng quy định của Bộ luật Tố t ng dân s . Về nội dung: Hợp đồng đặt cọc do các n ký kết không đảm ảo về mặt chủ th : B i vì quyền sử d ng đất cấp cho hộ gia đình nhưng việc ký kết không c s đồng ý của Phạm Thị Bích T là con của vợ chồng à H2 ông D; đối tượng của hợp đồng không th th c hiện hiện được n n hợp đồng này vô hiệu, việc xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu của Tòa án cấp sơ thẩm là ph hợp, đề nghị giữ nguy n ản án.

NH N Đ NH CỦA TÒA N:

Sau khi nghi n cứu các chứng cứ c tại hồ sơ được thẩm tra tại phi n tòa, căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phi n tòa, xét thấy:

[1] Về tố t ng:

[1.1] Bà Nguyễn Thị H2 là một trong hai ị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, n n việc kháng cáo của ị đơn là hợp lệ, nội dung kháng cáo được xét xử theo thủ t c phúc thẩm.

[1.2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định các vấn đề về tố t ng như quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết v việc của Tòa án; việc xét xử vắng mặt nguy n đơn và người làm chứng; việc đình chỉ một phần y u cầu kh i kiện của nguy n đơn đúng quy định của Bộ luật Tố t ng dân s .

[1.3] Ri ng việc viện dẫn pháp luật áp d ng, Tòa án cấp sơ thẩm vừa áp d ng các điều luật li n quan quy định tại Bộ luật Dân s năm 2005, vừa áp d ng các điều luật li n quan quy định tại Bộ luật Dân s năm 2015, nhưng không nhận định lý do áp d ng pháp luật là c thiếu s t.

[1.4] Tại phi n tòa sơ thẩm, các đương s đều đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không công nhận s thỏa thuận đ của đương s mà tuy n xử là không đúng với diễn iến tại phi n tòa. Tại phần quyết định của ản án, Tòa án cấp sơ thẩm tuy n chấp nhận một phần y u cầu của nguy n đơn nhưng không tuyên rõ là chấp nhận phần kh i kiện nào và không chấp nhận phần kh i kiện nào của nguy n đơn là thiếu s t.

[1.5] Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy: Giao dịch dân s được xác lập ngày 14/4/2016 là trước ngày Bộ luật Dân s năm 2015 c hiệu l c (ngày 01/01/2017 . Giao dịch dân s này (hợp đồng đặt cọc ảo đảm cho việc ký hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất đang được th c hiện và c nội dung, hình thức ph hợp với quy định của Bộ luật Dân s năm 2015, n n phải áp d ng quy định của Bộ luật Dân s năm 2015 đ giải quyết (Điều 688 của Bộ luật Dân s năm 2015 . Những thiếu s t của Tòa án cấp sơ thẩm về tố t ng như nhận định tại m c [1.3] và [1.4] n u tr n là không nghi m trọng, không phải là lý do hủy án, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[2] Xét nội dung tranh chấp, thấy r ng:

[2.1] Đối với y u cầu kh i kiện của nguy n đơn, trong quá trình tham gia tố t ng tại Tòa án cấp sơ thẩm nguy n đơn, ị đơn và người đại diện hợp pháp của ị đơn đều c lời khai thống nhất với nhau về nội dung thỏa thuận đặt cọc chuy n nhượng quyền sử d ng đất; số tiền đặt cọc nguy n đơn đã giao cho ị đơn; số tiền hai n thỏa thuận d ng cho người thứ a chi ph cho việc làm giấy tờ chuy n nhượng, sang t n quyền sử d ng đất cũng như thống nhất về số tiền ị đơn giao cho nguy n đơn ngày 27/7/2017 (sau khi ị đơn nhận tiền đặt cọc . Lời khai của n đương s này được n đương s kia thừa nhận, căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố t ng dân s quy định về những tình tiết, s kiện không phải chứng minh, Tòa án c đủ căn cứ khẳng định ị đơn đã nhận 100.000.000 đồng từ nguy n đơn đặt cọc nhận chuy n nhượng quyền sử d ng đất, trừ chi ph làm thủ t c sang t n số tiền là 7.000.000 đồng giao cho người thứ a là ông Trần Quang T, số tiền ị đơn th c tế nhận là 93.000.000 đồng; ngày 27/7/2017, ị đơn đã giao cho nguy n đơn 20.000.000 đồng, c i n nhận.

[2.2] Vấn đề các n đương s không thống nhất, c tranh chấp là nguy n đơn xác định số tiền 20.000.000 đồng ị đơn giao cho nguy n đơn vào ngày 27/7/2017 là tiền ị đơn th c hiện việc hoàn trả một phần tiền đặt cọc cho nguy n đơn do không th tiếp t c th c hiện việc chuy n nhượng quyền sử d ng đất; ị đơn còn c nghĩa v hoàn trả cho nguy n đơn 73.000.000 đồng (93.000.000 đồng – 20.000.000 đồng . Bị đơn thì c ý kiến ngược lại cho r ng số tiền 20.000.000 đồng ị đơn giao cho nguy n đơn vào ngày 27/7/2017 là tiền ị đơn cho nguy n đơn vay đ làm ăn; ị đơn không chấp nhận trả cho nguy n đơn 73.000.000 đồng ị đơn nhận đặt cọc chuy n nhượng quyền sử d ng đất. Vì khi thỏa thuận chuy n nhượng quyền sử d ng đất, ị đơn đã thông áo tình trạng đất không c đường đi và không tách thửa được, nhưng nguy n đơn vẫn đồng ý nhận chuy n nhượng. Bị đơn y u cầu nguy n đơn trả lại số tiền 20.000.000 đồng đã vay. Y u cầu phản tố của ị đơn được Tòa án cấp sơ thẩm th lý và giải quyết.

[2.3] Xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ c trong hồ sơ v án cũng như lời khai của các đương s tại phi n tòa phúc thẩm, Tòa án c căn cứ khẳng định cả ị đơn và nguy n đơn đều iết rõ tình trạng thửa đất 715, tờ ản đồ số 10 ấp B, xã A, huyện D (nay là khu phố B, phường A, thị xã D là thửa đất hai n thỏa thuận chuy n nhượng không c đường đi, không ảo đảm điều kiện tách thửa theo quy định của pháp luật. C th là nguy n đơn và ị đơn chỉ thỏa thuận chuy n nhượng một phần thửa đất 715 với diện t ch 400m2 trong số 1140m2 (loại đất trồng cây hàng năm . Theo Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất của ị đơn thì thửa đất số 715 tiếp giáp đường đất liền kề đường sắt nhưng theo Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số CH 881036 ngày 20/10/2017 do hộ ông Phạm Công D đứng t n (cấp mới thì không c đường đi. Như vậy tr n th c tế thì c đường đi nhưng theo quy hoạch của nhà nước và tr n Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất th hiện không c đường đi. Tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai năm 2013 quy định Ủy an nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử d ng đất tại địa phương quy định hạn mức, diện t ch đất tối thi u được tách thửa. Tại Điều 3 và Điều 4 của Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND ngày 27/9/2017 của Ủy an nhân dân tỉnh Bình Dương về việc quy định diện t ch đất tối thi u được phép tách thửa đối với các loại đất tr n địa àn tỉnh Bình Dương đã quy định diện t ch đất tối thi u được phép tách thửa đối với đất nông nghiệp tại các phường là 1.000m2; thửa đất mới hình thành và thửa đất còn lại sau khi tách thửa phải tiếp giáp đường do Nhà nước quản lý. Mặc khác, quyền sử d ng đất tại thửa đất 715 được cấp cho hộ gia đình của ị đơn. Tại phi n tòa phúc thẩm, ị đơn là à H2 c mặt tại phi n tòa và đại diện hợp pháp của ị đơn thống nhất lời khai xác định à H2 ông D còn c một người con t n Phạm Thị B ch T sinh ngày 10/10/1997, sống chung trong hộ gia đình nhưng khi ký kết hợp đồng đặt cọc, chị Trâm không iết, không tham gia ký kết, không c ý kiến về hợp đồng. Ngoài ra, à H2 còn c ý kiến khẳng định không đồng ý tiếp t c th c hiện hợp đồng; đại diện hợp pháp của ị đơn thì xác định: Đồng ý với ản án sơ thẩm về việc tuy n hợp đồng vô hiệu nhưng không đồng ý với cách giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu của Tòa án cấp sơ thẩm vì nguy n đơn là n c lỗi n n phải ị mất tiền đặt cọc. Đã c căn cứ xác định giao dịch đặt cọc chuy n nhượng quyền sử d ng đất ký giữa nguy n đơn và ị đơn không thỏa mãn đầy đủ các điều kiện c hiệu l c của giao dịch dân s theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân s năm 2015 (vi phạm điều cấm của luật n n ị vô hiệu và là nguy n nhân ch nh dẫn đến việc hợp đồng chuy n nhượng quyền sử d ng đất không được ký kết. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng đặt cọc này ị vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 137 của Bộ luật Dân s năm 2005 (tương ứng Điều 131 của Bộ luật Dân s năm 2015 là c căn cứ.

[2.4] Nguy n đơn rút y u cầu phạt cọc, n n Tòa án không xét yếu tố lỗi của các n tham gia giao dịch.

[2.5] Xét số tiền ị đơn c nghĩa v hoàn trả cho nguy n đơn là 93.000.000 đồng hay 73.000.000 đồng, thấy r ng: Tại i n ản hòa giải của Ủy an nhân dân phường An Bình lập ngày 25/12/2017 (BL 14,15,16 ị đơn là bà H2 và ông D đều thừa nhận à H2 còn giữ của nguy n đơn 73.000.000 đồng. Lời khai của người làm chứng là chị Lý im P, sinh năm 1988 xác định giữa tháng 10/2017, tại nhà à ngoại của chị P, chị c chứng kiến việc à H2 hứa trả lại cho à H 73.000.000 đồng (BL 68,69 ; ông Ngô Văn Lợi, sinh năm 1955 cũng xác định tại nhà mẹ ông c chứng kiến việc à H2 hứa án heo trả lại cho bà H 73.000.000 đồng (BL 53 . Chứng cứ do nguy n đơn cung cấp là nội dung i n nhận ngày 27/7/2017 ghi tại mặt sau “Hợp đồng đặt cọc” th hiện nội dung nguy n đơn nhận lại của ị đơn 20.000.000 đồng tiền đặt cọc nhận chuy n nhượng quyền sử d ng đất, còn lại 73.000.000 đồng. Tại phi n tòa, đại diện của ị đơn tranh luận cho r ng nguy n đơn ( n chuy n nhượng quyền sử d ng đất , là người đơn phương chấm dứt hợp đồng n n phải mất tiền đặt cọc là không ph hợp với ý ch và th c tế diễn iến th c hiện giao dịch. Bị đơn thừa nhận giữ của nguy n đơn 73.000.000 đồng trong số 93.000.000 đồng tiền cọc. Chứng cứ này của nguy n đơn hoàn toàn ph hợp với s thừa nhận của ị đơn tại i n ản hòa giải của Ủy an nhân dân phường An Bình và lời khai của những người làm chứng. Mặt khác, ị đơn nhận được ản sao i n nhận tiền do nguy n đơn nhờ chị P giao, nhưng không c ý kiến gì thắc mắc, n n chứng cứ nguy n đơn xuất trình c giá trị chứng minh y u cầu kh i kiện của nguy n đơn là c căn cứ và hợp pháp. Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chỉ uộc ị đơn trả lại 73.000.000 đồng là đã c lợi cho ị đơn về nghĩa v chịu tiền lãi do chậm th c hiện nghĩa v trả tiền.

[2.6] Xét y u cầu phản tố của ị đơn, thấy r ng tại Tòa án cấp sơ thẩm (và tại phi n tòa phúc thẩm ị đơn không c chứng cứ gì chứng minh cho y u cầu phản tố của mình là c căn cứ và không phản ác được chứng cứ do nguy n đơn xuất trình. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm uộc ị đơn c nghĩa v hoàn trả cho nguy n đơn 73.000.000 đồng tiền đặt cọc chuy n nhượng quyền sử d ng đất và ác y u cầu phản tố của ị đơn là ph hợp với th c tế khách quan.

[2.7] Tòa án cấp sơ thẩm c thiếu s t về tố t ng, như đã nhận định là không nghi m trọng; đường lối giải quyết v án ph hợp quy định của pháp luật; ị đơn kháng cáo nhưng không xuất trình được chứng cứ gì mới và không đưa ra được những căn cứ pháp lý chứng minh Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không đúng pháp luật. Đại diện ị đơn viện dẫn đi m a khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 01/2003/ NQ-HĐTP ngày 16 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là không ph hợp, vì nguy n đơn không y u cầu phạt cọc, n n cần giữ nguy n ản án sơ thẩm nhưng sẽ điều chỉnh nội dung phần quyết định cho ph hợp.

[3] Ý kiến của đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp.

[4] Về án ph dân s phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

V các lẽ trên;

Q YẾT Đ NH:

- Căn cứ Điều 131; Đi u 147; khoản 1, Điều 148; khoản 1, Điều 308; Điều 313 Bộ luật Tố t ng dân s ;

- Căn cứ các Điều 117; 131; 328; 688 Bộ luật Dân s năm 2015

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án ph và lệ ph Tòa án.

1. hông chấp nhận kháng cáo của ị đơn là à Nguyễn Thị H2.

Giữ nguy n Bản án sơ thẩm số 62/2018/DS-ST ngày 28-6-2018 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương như sau:

1.1 Đình chỉ một phần y u cầu kh i kiện của nguy n đơn à Vũ Thị H1 đối với ông Phạm Công D và à Nguyễn Thị H2 về y u cầu ồi thường đặt cọc số tiền 100.000.000 đồng.

1.2 Công nhận s thỏa thuận của nguy n đơn và ị đơn về việc hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 14/4/2016 giữa à Nguyễn Thị H2 và à Vũ Thị H1 .

1.3 Chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn à Vũ Thị H1 đối với ông Phạm Công D và à Nguyễn Thị H2 về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

Buộc ông Phạm Công D và à Nguyễn Thị H2 c trách nhiệm li n đới hoàn trả cho à Vũ Thị H1 số tiền đặt cọc đã nhận (sau khi trừ số tiền đã hoàn trả 20.000.000 đồng và số tiền chi ph làm giấy tờ là 7.000.000 đồng , còn lại là 73.000.000 đồng ( ảy mươi a triệu đồng .

từ ngày người được y u cầu thi hành án c đơn y u cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân s tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

1.4 hông chấp nhận y u cầu phản tố của ị đơn ông Phạm Công D và à Nguyễn Thị H2 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản với à Vũ Thị H1 .

1.5 Về án ph dân s sơ thẩm:

- Ông Phạm Công D và à Nguyễn Thị H2 có trách nhiệm li n đới chịu số tiền 300.000 đồng án ph đối với y u cầu tuy n hủy hợp đồng đặt cọc và số tiền 1.000.000 đồng án ph c giá ngạch đối với y u cầu phản tố không được chấp nhận, tổng là 1.300.000 đồng (một triệu a trăm nghìn đồng .

- Hoàn trả cho à Vũ Thị H1 4.800.000 đồng ( ốn triệu tám trăm nghìn đồng tiền tạm ứng án ph đã nộp theo i n lai thu tiền số 0018799 ngày 16/01/2018 của Chi c c Thi hành án dân s thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2. Về án ph dân s phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị H2 phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng , được khấu trừ vào tiền tạm ứng án ph đã nộp theo Bi n lai thu tiền số 0019733 ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Chi c c Thi hành án dân s thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Bản án phúc thẩm c hiệu l c pháp luật k từ ngày tuy n án.

Trường hợp ản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s ./. N i nhận:

Cỡ chữ