- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Bạch M.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2185/2022/HNGĐ-ST Ngày: 22/12/2022 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Nhanh
Ông Nguyễn Thành Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Xuân Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2022/TLST-HNGĐ ngày 10/01/2022 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5352/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/10/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15167/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23/11/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Bạch M, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ: X1, ấp A1, xã X2, huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Van De Maele Guy G, sinh năm 1952 (vắng mặt)
Quốc tịch: Bỉ (Belgian)
Địa chỉ: Belgium.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 07/6/2021 và bản tự khai, nguyên đơn – bà Trần Bạch M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Van De Maele Guy G kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số X3 do Ủy ban nhân dân huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/6/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, đến tháng 9/2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống trở nên căng thẳng, vợ chồng đã nhiều lần hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Từ tháng 10/2020 ông Van De Maele Guy G trở về Bỉ. Nay nhận thấy không còn tình cảm, không thể kéo dài cuộc hôn nhân này nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Van De Maele Guy G.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai được Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Bỉ chứng thực ngày 21/9/2022, bị đơn - ông Van De Maele Guy G trình bày:
Ông là chồng của bà M, đôi bên đã kết hôn ngày 22/6/2020, sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai vợ chồng thực sự bị mất đi, kết quả là đôi bên trở nên xa cách và một cuộc ly hôn trên thực tế đã xảy ra từ tháng 9/2020. Ông đồng ý đơn xin ly hôn của bà Trần Bạch M và cũng đồng ý việc tòa án phán quyết ly hôn. Do tình trạng sức khỏe kém và do quãng đường di chuyển quá xa nên ông xin được vắng mặt tại các phiên xét xử.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
* Bà Trần Bạch M và ông Van De Maele Guy G có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. bà M và ông Van De Maele Guy G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Bạch M:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Bạch M được ly hôn với ông Van De Maele Guy G.
+ Về việc nuôi con: Không có.
+ Về chia tài sản và nợ chung: Không có.
+ Về án phí: Bà Trần Bạch M phải chịu án phí 300.000 đồng theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Ngày 07/6/2021, bà Trần Bạch M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Van De Maele Guy G. Ông Van De Maele Guy G hiện đang cư trú tại Bỉ, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Trần Bạch M và ông Van De Maele Guy G đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238; điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Bạch M và ông Van De Maele Guy G tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số X3do Ủy ban nhân dân huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/6/2020, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. bà M và ông Van De Maele Guy G đều xác nhận vợ chồng không còn tình cảm do khoảng cách địa lý, bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề, không hiểu biết lẫn nhau, thời gian xa cách đã lâu, nên cả hai thống nhất ly hôn. Do đó, có cơ sở xác định ông Van De Maele Guy G và bà M đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà Trần Bạch M về việc xin ly hôn với ông Van De Maele Guy G.
Về việc nuôi con: Không có.
Về chia tài sản: Không có.
Về nợ: Không có.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. bà M phải chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, điểm a khoản 5 Điều 477 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Bạch M.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Bạch M được ly hôn với ông Van De Maele Guy G.
- Về việc nuôi con: Không có.
- Về chia tài sản: Không có.
- Về nợ: Không có.
2. Bà Trần Bạch M phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà Trần Bạch M đã nộp theo biên lai số X4 ngày 29/6/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Bạch M đã nộp đủ án phí.
3. Bà Trần Bạch M có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày; ông Van De Maele Guy G có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Quách Thanh Bình Lê Thị Nhanh
Nguyễn Thành Châu
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND Tp. HCM ; - VKSND cấp cao tại Tp. HCM; - Cục THADS Tp. HCM; - Sở Tư pháp Tp. HCM; - UBND huyện H1, Tp. HCM ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (20). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thanh Bình |