vanban.org

Bản án 218/2026/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 21/04/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/04/2026 Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP X; bị đơn Vũ Thị Ph ơng T2.

Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của Ngân hàng TMCP X: Buộc ông Trần Đức B và bà Vũ Thị Ph ơng T2 phải trả cho Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - L1 số tiền nợ gốc là 586.241.084 đồng, số tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/10/2025) là 192.963.533 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 779.2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng E-Vũ Thị Phương T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP X; bị đơn Vũ Thị Ph ơng T2.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2026/DS-PT
Ngày: 21/4/2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín
dụng; yêu cầu hủy một phần
hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản

Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng, bà Vũ Thị Thanh Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Trúc Giang - Th ký Tòa án nhân dân t nh Lâm Đồng.

- Đ i di n Vi n i m t nh n d n t nh L m Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2026, t i trụ s Tòa án nhân dân t nh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 576/2025/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng; yêu cầu hủy một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2025/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng bị kháng cáo. Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số 100/2026/QĐ-PT ngày 09/02/2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 170/2026/QĐ-PT ngày 07/4/2026 của Tòa án nhân dân t nh Lâm Đồng, giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X (viết tắt là E).

Trụ s : Tầng 8, Văn phòng số L+16 Tòa nhà V, số G L, ph ờng S, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật. Ông Nguyễn Cảnh A – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo quyền: Ông Nguyễn Văn T – Giám đốc chi nhánh E (theo Giấy ủy quyền số 304/2024/EIB/UQ-CTHĐQT ngày 02/7/2024).

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Xuân T1 – Chuyên viên khách hàng cá nhân – Phòng G1. Địa ch : T đất số 07, 08, 09 – Tờ bản đồ quy ho ch bến xe cũ, đ ờng T, tổ B, xã Đ, t nh Lâm Đồng.

- Bị đơn:

1/Ông Trần Đức B, sinh năm: 1980. Địa ch : Số A khu phố B, ph ờng T, Quận G, Thành Phố Hồ Chí Minh (nay là số A khu phố B, ph ờng T, Thành Phố Hồ Chí Minh).

2/Bà Vũ Thị Ph ơng T2, sinh năm: 1986. Địa ch : Thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị Phương T2: Ông Tr ơng Phúc Â, sinh năm: 1960. Địa ch : Lô B, H, ph ờng C-Đ, t nh Lâm Đồng (văn bản ủy quyền lập ngày 21/10/2024).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/Bà Hoàng Vân A1, sinh năm: 1961. Địa ch : Thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng.

2/Bà K' Lớp, sinh năm: 1959. Địa ch : Thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng.

3/Bà K' Thiệp, sinh năm: 1992; Ông K. Địa ch : Thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng.

4/Bà K' Biển, sinh năm: 1983. Địa ch : Thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng.

5/Bà K' Gái, sinh năm: 1971. Địa ch : Thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng.

Người kh ng c o: Nguyên đơn ngân hàng TMCP X; bị đơn bà Vũ Thị Ph ơng T2.

T i phiên tòa có mặt: ông Trần Xuân T1, bà K1, bà K2, bà K3 và bà K4; các đ ơng sự còn l i vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP X (viết tắt Ngân hàng E) trình bày:

Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 đã cấp tín dụng cho bà Vũ Thị Ph ơng T2 và ông Trần Đức B nh sau:

Số hợp đồng tín dụng: 1205-LAV-220064162 ngày 25/07/2022.

Số khế ớc nhận nợ: 1205LDS230000595 ngày 27/04/2023.

Số tiền giải ngân: 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng chẵn).

D nợ gốc tính đến 07/8/2024 là: 587.573.585 đồng (năm trăm tám m ơi bảy triệu, năm trăm bảy m ơi ba ngàn, năm trăm tám m ơi lăm đồng chẵn).

Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn trồng gừng.

Ph ơng thức cho vay: H n mức.

Thời h n cho vay: 12 tháng.

Tài sản đảm bảo: Quyền sử dụng 1.164 m² đất tọa l c t i TDP Cô Y, thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 712673 do UBND huyện L, t nh Lâm Đồng cấp ngày 04/4/2006).

Trong quá trình sử dụng vốn, bà Vũ Thị Ph ơng T2 và ông Trần Đức B đã vi ph m nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi đến h n cho Ngân hàng E theo các thỏa thuận đã đ ợc ký kết. Số tiền gốc còn d nợ, lãi đến h n (bao gồm cả lãi ph t quá h n) ch a thanh toán t m tính đến ngày 29/10/2025 là: 779.204.617 đồng.

Nhiều lần Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - L1 đã làm việc với bà Vũ Thị Ph ơng T2 và ông Trần Đức B về việc có trách nhiệm trả nợ khoản vay nh ng bà Vũ Thị Ph ơng T2 và ông Trần Đức B không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ của mình cho E.

E đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà Vũ Thị Ph ơng T2 và ông Trần Đức B phải trả cho E toàn bộ số tiền gốc và lãi phát sinh nêu trên tính đến ngày 29/10/2025 là 779.204.617 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 30/10/2025 tr đi theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết cho đến khi bà T2, ông B trả xong nợ cho Ngân hàng. Đồng thời yêu cầu tiếp tục duy trì biện pháp thế chấp tài sản đảm bảo cho khoản vay t i Ngân hàng E để đảm bảo cho việc thi hành án, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay của bà Vũ Thị Ph ơng T2 và ông Trần Đức B.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Vũ Thị Phương T2 là ông Trương Phúc  trình bày:

Ngày 20/7/2022, Ngân hàng E và bà T2, ông B có ký kết Hợp đồng thế chấp số 218ĐT-2022/EIBĐT/TCTS để vay vốn tín dụng. Tài sản thế chấp là nhà đất thuộc thửa đất số 580, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.164m2, tọa l c t i tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AD 712673 do UBND huyện L cấp ngày 04/4/2006 đã sang tên bà Vũ Thị Ph ơng T2.

Nguồn gốc nhà đất nói trên là của cha mẹ bà T2 là ông Vũ Anh T3, bà Hoàng Vân A1 cho tặng em ruột bà T2 là Vũ Hoàng H ngày 24/9/2019. Sau đó, H cho tặng riêng bà T2 ngày 04/9/2020 và đã sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 24/11/2021, chồng bà T2 là ông Trần Đức B lập văn bản cam kết quyền s hữu nhà và quyền sử dụng đất nói trên là tài sản riêng của bà T2, chồng bà T2 không có bất cứ sự đóng góp nào vào việc t o lập khối tài sản nêu trên, đ ợc UBND xã T, huyện L chứng thực.

Tuy nhiên, khi bà T2 yêu cầu thế chấp tài sản riêng của bà T2 nói trên để vay vốn sản xuất nông nghiệp thì ngày 25/7/2022 E yêu cầu bà T2 và chồng bà T2 là B phải ký Hợp đồng tín dụng số 1205-LAV-22006412 để vay số tiền theo h n mức là 600.000.000 đồng.

Ngày 27/4/2023, E yêu cầu vợ chồng bà T2 ký Khế ớc nhận nợ số 1205-LDS 2300 00595 với số tiền vay là 600.000.000 đồng. Thời h n vay 09 tháng kể từ ngày 27/4/2023 đến 27/01/2024, đồng thời E đã giải ngân cho bà T2 vay 600.000.000 đồng.

Ngày 19/5/2023, E và bà T2 ký tiếp Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 014SD-2023/EIB-PGDĐT/TCTS. T i Điều 3 Hợp đồng sửa đổi, bổ sung này quy định: “Tổng nghĩa vụ được bảo đảm của Bên được cấp tín dụng theo Hợp đồng này bao gồm các khoản nợ gốc, số dư bảo lãnh tại mọi thời điểm là 1.500.000.000 đồng (bằng chữ: Một tỷ năm trăm triệu đồng chẵn) (bao gồm khoản vay đã công chứng 1.000.000.000 đồng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 218ĐT-2022/EIBĐT/TCTS được công chứng tại Văn phòng C ngày 20/7/2022) và các khoản nợ lãi, lãi quá hạn, tiền phạt, phí và các chi phí khác có liên quan”.

Sau đó, E yêu cầu ông B, ngụ t i TP Hồ Chí Minh lên Ngân hàng E ký tiếp hợp đồng tín dụng, nh ng chồng bà T2 bận công tác, nên ngày 12/12/2023 chồng bà T2 đã làm văn bản ủy quyền cho bà T2 đ ợc thay mặt và nhân danh chồng bà T2 ký tên vào hồ sơ vay vốn ngân hàng; nhận giải ngân từ ngân hàng và toàn quyền sử dụng khoản tiền vay từ ngân hàng, đ ợc UBND xã T, huyện L chứng thực.

Ngày 01/02/2024, bà T2 làm đơn xin vay vốn tăng thêm 600.000.000 đồng để đầu t thực hiện kế ho ch sản xuất nông nghiệp. Sau đó, bà T2 đến làm việc thì ông N - Phó Giám đốc E yêu cầu về tất toán các khoản nợ với các công ty tài chính mới cho vay thêm. Sau khi bà T2 đã tất toán hết các khoản vay với các công ty tài chính và đem biên lai đến gặp ông N, thì ông N bảo không có quyền cho vay, phải gặp Giám đốc. Bà T2 lên gặp Giám đốc thì đ ợc trả lời đến tháng 6/2024 mới giải quyết cho bà T2 vay thêm.

Tuy nhiên, sau đó E vẫn không giải quyết cho bà T2 vay thêm theo Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 014 SD-2023/EIB- PGDĐT/TCTS ngày 19/5/2023. Do E chậm giải quyết cho bà T2 vay vốn tín dụng tăng thêm theo Hợp đồng sửa đổi, bổ sung nên đã ảnh h ng rất lớn đến kế ho ch đầu t canh tác, thu hồi vốn, trả nợ của bà T2. Ngày 01/5/2024, bà T2 bất ngờ nhận đ ợc Thông báo xử lý nợ của Ngân hàng E ký yêu cầu bà T2 hoàn trả số tiền gốc và lãi đến h n số tiền: 642.690.000 đồng.

Ngày 20/5/2024, bà T2 có đơn kiến nghị gửi Giám đốc Phòng G1 xem xét sớm giải ngân cho bà T2 vay thêm cho đủ h n mức tín dụng 1.500.000.000đ theo Hợp đồng sửa đổi bổ sung mà E đã ký kết.

Ngày 24/7/2024, Giám đốc E ra Thông báo chuyển nợ quá h n đối với khoản tiền vay của bà T2 t m tính đến ngày 31/7/2024 là 647.699.983 đồng, yêu cầu bà T2 phải thanh toán tr ớc 20 giờ ngày 31/7/2024. Cũng trong ngày 24/7/2024, Giám đốc Ngân hàng E ra văn bản trả lời đơn kiến nghị, không giải quyết cho bà T2 vay thêm theo theo Hợp đồng sửa đổi, bổ sung đã ký kết vì cho rằng: “Chồng khách hàng là ông Trần Đức B không ký hợp đồng tín dụng nên ngân hàng không thể giải quyết cấp tín dụng theo quy định. Quá 03 tháng kể từ ngày đồng cấp tín dụng khách hàng và chồng khách hàng không ký hợp đồng tín dụng do quá hạn hợp đồng tín dụng".

Bà T2 không đồng ý với ý kiến nói trên của E. B i lẽ: Do chồng bà T2 là ông Bảo bận công việc làm ăn xa, không thể lên E để ký hợp đồng tín dụng, nên ngày 12/12/2024 đã làm Văn bản ủy quyền cho bà T2 ký tên vào hồ sơ vay vốn ngân hàng; nhận giải ngân từ Ngân hàng và toàn quyền sử dụng khoản tiền vay từ ngân hàng. Văn bản ủy quyền đ ợc UBND xã T, huyện L chứng thực là đúng với quy định của pháp luật.

Mặt khác, chồng bà T2 đã có Văn bản cam kết tài sản ngày 24/11/2021 cam kết nhà và đất thế chấp để vay vốn ngân hàng là tài sản riêng của bà T2. Bà T2 đã nộp Giấy ủy quyền và Văn bản cam kết tài sản của ông Trần Đức B đ ợc công chứng, chứng thực cho E. Tuy nhiên, E không giải quyết cho bà T2 vay. T i Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 014/SD-2023/EIB-PGDĐT/TCTS ngày 19/5/2023 ch có chữ ký của một mình bà Vũ Thị Ph ơng T2. Do vậy, E cho rằng do chồng bà T2 không ký tên vào Hợp đồng tín dụng nên không thể giải quyết cấp tín dụng là không phù hợp với quy định của pháp luật. T i văn bản trả lời đơn kiến nghị ngày 24/7/2024 E cho rằng: “Ngày 31/10/2023 bà Vũ Phương T2 đã nhảy nhóm nợ chú ý tại Công ty T5, Ngân hàng TMCP X1 Chi nhánh L1 - L1 đã liên hệ nhiều lần để bảo khách hàng tất toán khoản vay tại công ty T5 để đảm bảo điều kiện cấp lại khoản vay 600 triệu đồng của bà T2 khi tới hạn ngày 27/01/2024 theo quy định ngân hàng. Tuy nhiên, đến ngày 27/01/2024 bà Vũ Thị Phương T2 vẫn đang có nợ chú ý nên ngân hàng không thể cấp lại khoản vay”. Ngày 31/7/2024 bà T2 gửi Đơn khiếu n i sự việc nói trên đến Ngân hàng E và các cơ quan có liên quan. Ngày 16/9/2024 Giám đốc Ngân hàng E ban hành văn bản số 05/2024/EIBLĐTB “Về việc phản hồi đơn khiếu n i của bà Vũ Thị Ph ơng T2 với nội dung từ chối thực hiện việc cấp tín dụng cho bà T2 theo Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số: 014SD-2023/EIB-PGDĐT/TCTS ngày 19/5/2023 đã ký kết.

Do vậy, Bà T2 không chấp nhận yêu cầu của E buộc bà T2 và ông Trần Đức B có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng E toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi (t m tính đến ngày 29/10/2025 là 779.204.617 đồng) và lãi phát sinh đ ợc tiếp tục tính cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi quá h n và lãi ph t chậm theo hợp đồng tín dụng.

Bị đơn ông Trần Đức B thống nhất với ý kiến của bà Vũ Thị Phương T2.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Vân A1 trình bày: Bà thống nhất với ý kiến của con gái bà chị Vũ Thị Ph ơng T2, ng ời đ i diện theo ủy quyền ông Tr ơng Phúc Â. Hiện nay bà ch là ng ời t m trên diện tích đất mà đã sang tên cho con gái bà Vũ Thị Ph ơng T2.

Nguồn gốc thửa đất số 580, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.164m², tọa l c t i thôn B Cô Y, xã Đ, t nh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 712673 do UBND huyện L cấp ngày 04/4/2006 là của vợ chồng bà (cha mẹ của T2) đ ợc Nhà n ớc cấp quyền sử dụng đất năm 1993. Năm 1997, bà K1 kh i kiện tranh chấp quyền sử dụng đất nói trên với vợ chồng bà. T i Bản án dân sự sơ thẩm số 29/DSST ngày 07/9/1997, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà tuyên xử: “Bác yêu cầu đòi l i quyền sử dụng đất của bà K1, giữ nguyên tình tr ng sử dụng thửa đất số 580, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.134m². Buộc ông Vũ Anh T3 thanh toán cho bà K1 số tiền là 4.091.000 đồng. T i Bản án dân sự phúc thẩm số 63/DSPT ngày 25/11/1997 của Tòa án nhân dân t nh Lâm Đồng quyết định “Giữ y án sơ thẩm”.

Sau khi bản án nói trên có hiệu lực thi hành, vợ chồng bà đã nộp tiền thi hành án. Đội Thi hành án huyện Lâm Hà đã báo bà K' Lớp đến nhận khoản tiền nói trên nh ng bà K' Lớp không nhận. Đến năm 2003, gia đình bà K' Lớp ngang nhiên đến chặt phá cà phê, dựng nhà trái phép trên đất hợp pháp của gia đình bà. Ngày 29/4/2003 Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà có Giấy báo tin số 25/GBT trong đó có nội dung: Hành vi dựng nhà trái phép của bà K6 là hành vi vi ph m hành chính và h ớng dẫn gia đình bà viết đơn gửi đến UBND các cấp xem xét, xử lý hành chính đối với bà K1, buộc gia đình bà K1 phải tháo dỡ căn nhà xây dựng trái phép trên đất của gia đình đ ợc cấp. Đồng thời, h ớng dẫn bà liên hệ với Đội Thi hành án huyện Lâm Hà thực hiện bản án mà Tòa đã tuyên.

Thời gian qua, bà nhiều lần gửi đơn đến UBND huyện L, UBND t nh L và các cơ quan chức năng yêu cầu xử lý đối với hành vi xây dựng nhà trái phép của bà K' Lớp, buộc gia đình bà K' Lớp phải tháo dỡ căn nhà xây dựng trái phép và trả l i đất cho gia đình bà. Tuy nhiên, đến nay vẫn ch a đ ợc các cơ quan chức năng xử lý.

Ngày 21/9/2006, UBND t nh L có văn bản số 5714/UBND-TD gửi UBND huyện L với nội dung: “UBND t nh L nhận đơn của bà Hoàng Vân A1 c ngụ t i thôn B C, thị trấn Đ, huyện L khiếu n i gia đình bà K' Lớp cùng thôn lấn chiếm đất của gia đình bà, xây dựng nhà trái phép trên diện tích đất mà gia đình bà đã đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, gia đình bà K' Lớp còn chửi bới, hành hung; bà đã nhiều lần làm đơn gửi chính quyền địa ph ơng từ năm 2003 đến nay vẫn ch a đ ợc xem xét, giải quyết”.

T i Biên bản xem xét, thẩm định t i chỗ ngày 16/12/2024, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng) ghi nhận việc bà K' Lớp (K) và các con đã làm nhà và sử dụng diện tích đất có chiều ngang tiếp giáp mặt đ ờng khoảng 30m, chiều sâu khoảng 19m trên thửa đất số 580, tờ bản đồ số 21 của vợ chồng bà đã đ ợc UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 712673 ngày 04/4/2006 đang thế chấp vay tiền t i E. Do vậy, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết: Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà K' Lớp, K' Biển, K' Thiệp, vì việc tranh chấp đất đã đ ợc giải quyết và có bản án có hiệu lực thi hành của Tòa án. Ngoài ra, bà không có ý kiến nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà K1 (K'Lấp) trình bày: Năm 1989, hộ gia đình ông Vũ Anh T3 (là bố của bà Vũ Thị Ph ơng T2) từ đâu đến, có qua xin bà cất dựng một căn nhà nhỏ vách đất lợp tranh để ăn t m thời trong thời gian là 06 năm. Lúc đó gia đình bà rộng l ợng trên tinh thần “nh ờng cơm xẻ áo và thỏa thuận thống nhất bằng lời nói bà cho gia đình ông T3 đ ợc phép t m thời 06 năm trên đất của bà. Gia đình bà lúc đó không biết chữ, vừa th ơng ng ời nên tin t ng chẳng cần giấy tờ gì. Đến năm 1994, gia đình bà đã đến nhắc nh nhiều lần đối với gia đình ông T3, nh ng ông T3 cố tình không trả. Gia Đình ông T3 có đ a cho gia đình bà 4.000.000 (bốn triệu đồng chẵn) vì gia đình ông T3 bảo tiền này là tiền mua đất nh ng gia đình bà ch cho gia đình ông T3 nhờ nên gia đình bà không nhận. Việc m ợn đất của ông T3 thì có nhiều ng ời chứng kiến, tất cả những ng ời chứng kiến trên đều tận mắt thấy rõ sự việc xin m ợn của gia đình ông T3 đối với gia đình bà. Bà yêu cầu Tòa án tuyên hủy (vô hiệu) một phần hợp đồng thế chấp số 218/DT-2022/EIBDT/TCTS ngày 20/7/2022 giữa ngân hàng TMCP X với ông Trần Đức B, bà Vũ Thị Ph ơng T2 đối với phần diện tích đất 149m² thuộc một phần thửa 580, tờ bản đồ 21 t i thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là xã Đ, t nh Lâm Đồng).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà K3 trình bày: Bà không đồng ý với tất cả nội dung đơn kh i kiện của E và bị đơn là ông Trần Đức B và Bà Vũ Thị Ph ơng T2. Vì nguồn gốc đất là từ năm 1979 do Ban Nhân dân thôn và Tập đoàn S thống nhất cấp cho mẹ bà là bà K' Lớp một lô với diện tích đo tay lúc đó khoảng 1000m². Vì điều kiện khó khăn nên không cất dựng nhà cửa và có cái chòi nhỏ. Gia đình bà ch sản xuất hoa màu liên tục đến năm 1989. Đến năm 1997, gia đình bà xây nhà gỗ t i lô đất này. Và đến năm 2009, mẹ bà là bà K' Lớp đã cho tặng bà một phần thửa đất này. Theo hiện tr ng đo đ c của Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai huyện L vào ngày 11/02/2025 thì lô đất của bà có diện tích là 240m² thuộc một phần thửa đất 580. Về nguồn gốc đất tranh chấp nh mẹ bà đã trình bày trên.

Do đó, bà yêu cầu Tòa án tuyên hủy (vô hiệu) một phần hợp đồng thế chấp số 218/ĐT-2022/EIBDT/TCTS ngày 20/07/2022 giữa ngân hàng TMCP X với ông Trần Đức B, bà Vũ Thị Ph ơng T2 đối với phần diện tích đất 240m2 thuộc một phần thửa 580, tờ bản đồ 21 t i thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là xã Đ, t nh Lâm Đồng).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà K' Thiệp trình bày: Về nguồn gốc đất tranh chấp nh mẹ bà đã trình bày trên. Theo hiện tr ng đo đ c của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L vào ngày 11/02/2025 thì lô đất còn l i của bà có diện tích là 155m² thuộc một phần thửa đất 580 tờ bản đồ số 21 và gia đình vẫn sử dụng ổn định từ tr ớc đến nay. Do đó, bà yêu cầu kh i kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy (vô hiệu) một phần hợp đồng thế chấp số 218/ĐT-2022/EIBDT/TCTS ngày 20/07/2022 giữa ngân hàng TMCP X với ông Trần Đức B, bà Vũ Thị Ph ơng T2 đối với phần diện tích đất 155m² thuộc một phần thửa 580, tờ bản đồ 21 t i thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là xã Đ, t nh Lâm Đồng).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan K’Gái tình bày: Năm 2007, bà có mua của vợ chồng ông Vũ Tuấn A2, bà Hoàng Vân A1 diện tích mặt đ ờng 15m, chiều sâu đến ruộng với số tiền 19.700.000 đồng và bà đã thanh toán đủ tiền, nhận đất xây nhà quản lý sử dụng ổn định kể từ đó cho đến nay. Trong vụ án tranh chấp giữa E với bà T2 thì bà không có ý kiến hay yêu cầu gì. Đối với việc bà nhận chuyển nh ợng một phần diện tích thuộc thửa 580, tờ bản đồ 21 với chiều dài mặt đ ờng 15m của bà Hoàng Vân A1 thì bà đề nghị để bà với bà Vân A1 tự th ơng l ợng giải quyết với nhau, bà không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp bà sẽ kh i kiện bằng vụ án khác theo thủ tục chung. Do đó, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2025/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng đã quyết định:

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 116, Điều 117, Điều 299, Điều 303, Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 322, Điều Điều 357, Điều 422, Điều 428, 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 100 và Điều 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao h ớng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, ph t vi ph m;

Căn cứ Thông t số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 “quy định về ho t động cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng n ớc ngoài đối với khách hàng”;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - L1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với vợ chồng ông Trần Đức B, bà Vũ Thị Ph ơng T2.

Buộc vợ chồng ông Trần Đức B, bà Vũ Thị Ph ơng T2 phải trả cho Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - L1 số tiền nợ gốc là 586.241.084 đồng, số tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/10/2025) là 192.963.533 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 779.204.617 đồng (bảy trăm bảy m ơi chín triệu, hai trăm lẻ bốn ngàn, sáu trăm m ời bảy đồng).

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/10/2025) cho đến khi thi hành án xong, vợ chồng ông Trần Đức B, bà Vũ Thị Ph ơng T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá h n các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP X

- Chi nhánh L1 - PGD Đức Trọng với vợ chồng ông Trần Đức B, bà Vũ Thị Ph ơng T2 nh ng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Tr ờng hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về điều ch nh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng thì lãi suất mà vợ chồng ông Trần Đức B, bà Vũ Thị Ph ơng T2 phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - PGD Đức Trọng theo quyết định của Tòa án cũng đ ợc điều ch nh cho phù hợp với sự điều ch nh lãi suất của ngân hàng.

2. Chấp nhận một phần cầu kh i kiện của Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - L1 về việc yêu cầu tiếp tục duy trì một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 218ĐT- 2022/EIBĐT/TCTS ngày 20/7/2022 giữa Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - PGD Đức Trọng với bà Vũ Thị Ph ơng T2 đối với diện tích là 211m2 và tài sản gắn liền với đất thuộc một phần thửa đất số 580 tờ bản đồ 21 đất tọa l c t i TDP Cô Y, thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng) giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 712673 do UBND huyện L, t nh Lâm Đồng cấp ngày 04/04/2006 đ ợc Công chứng t i Văn phòng C; số công chứng 7886, quyển sổ 01/2022 TP/CC- SCC/HĐGD ngày 20/7/2022.

Trong tr ờng hợp số tiền thu hồi đ ợc từ tài sản đảm bảo không đủ trả nợ thì ông B, bà T2 còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - L1 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản tiền vay.

3. Không chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của Ngân hàng TMCP X, chi nhánh L1, phòng G1 về việc yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 831m2 thuộc một phần thửa 580 tờ bản đồ số 21 thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng) giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 712673 do UBND huyện L, t nh Lâm Đồng cấp ngày 04/04/2006 đ ợc Công chứng t i Văn phòng cộng chứng Nguyễn Đức T4; số công chứng 7886, quyển sổ 01/2022 TP/CC- SCC/HĐGD ngày 20/7/2022.

4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà K' Lớp, bà K' Biển và chị K' Thiệp về việc “Yêu cầu hủy một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”

Hủy một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 218ĐT-2022/EIBĐT/TCTS ngày 20/7/2022, giữa Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - PGD Đức Trọng với bà Vũ Thị Ph ơng T2 đối với diện tích 149m2 do bà K1 đang quản lý sử dụng. Diện tích là 240m2 do bà K3 quản lý sử dụng. Diện tích là 155m2 do chị K2 và tài sản gắn liền với đất thuộc một phần thửa đất số 580 tờ bản đồ 21 đất tọa l c t i TDP Cô Y, thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng) giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 712673 do UBND huyện L, t nh Lâm Đồng cấp ngày 04/04/2006 đ ợc Công chứng t i Văn phòng C; số công chứng 7886, quyển sổ 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/7/2022.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 04/11/2025, bị đơn bà Vũ Thị Ph ơng T2 kháng cáo. Ngày 11/11/2025, nguyên đơn Ngân hàng TMCP X kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Những ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: T i phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn kháng cáo nh ng không cung cấp đ ợc tài liệu, chứng cứ nào mới làm phát sinh, thay đổi nội dung tính chất của vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của các đ ơng sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đ ợc thẩm tra t i phiên tòa phúc thẩm; trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận t i phiên tòa của các đ ơng sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP X, bị đơn Vũ Thị Ph ơng T2 làm trong thời h n luật định, nội dung kháng cáo nằm trong ph m vi bản án sơ thẩm, nên đ ợc xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Các đ ơng sự vắng mặt t i phiên tòa phúc thẩm đã đ ợc Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nh ng vẫn vắng mặt t i phiên tòa, ng ời kháng cáo là bà Vũ Thị Ph ơng T2 và ng ời đ i diện theo ủy quyền của bà T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đ ơng sự theo quy định t i khoản 3 điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng sửa đổi, bổ sung điều ch nh vốn vay, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Ngày 25/7/2022, bà Vũ Thị Ph ơng T2 và ông Trần Đức B ký Hợp đồng tín dụng số 1205-LAV-220064162 để vay tiền t i E, h n mức cho vay là 600.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay này, tr ớc đó vào ngày 20/7/2022 bà T2 có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 580, tờ bản đồ 21, diện tích 1.164m2 tọa l c t i TDP Cô Y, thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là thôn C, thị trấn Đ, t nh Lâm Đồng) đ ợc cấp Giấy chứng nhận số AD 712673 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 04/4/2006 đứng tên bà Vũ Thị Ph ơng T2 theo ch nh lý cập nhật biến động ngày 04/9/2020, hợp đồng đ ợc công chứng t i Văn phòng C; đến ngày 21/7/2022 thì thực hiện đăng ký thế chấp t i Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L. Ngày 19/5/2023, bà T2 và ngân hàng ký Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 014SĐ-2023/EIB-PGDDT/TCTS có nội dung điều ch nh nghĩa vụ đ ợc bảo đảm của bên vay lên 1.500.000.000 đồng, đ ợc thế chấp bằng quyền sử dụng đất nêu trên. Ngày 12/12/2023, ông Trần Đức B ủy quyền cho bà T2 ký hồ sơ vay vốn, nhận giải ngân và sử dụng vốn vay. Ngày 01/02/2024, bà T2 làm đơn xin vay thêm 600.000.000 đồng theo h n mức tín dụng mới, nh ng không đ ợc ngân hàng chấp thuận vì đã quá 03 tháng kể từ ngày cấp tín dụng nh ng chồng bà T2 là ông B không ký hợp đồng tín dụng.

[2.2] Bị đơn Vũ Thị Ph ơng T2 không đồng ý với lý do mà phía ngân hàng đ a ra, đề nghị ngân hàng thực hiện việc giải ngân cho vay thêm vốn theo nh mức tín dụng mới đã đ ợc điều ch nh theo hợp đồng sửa đổi, bổ sung. Do đó, bà không đồng ý với yêu cầu kh i kiện của ngân hàng về việc buộc trả nợ; đồng thời đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, buộc ngân hàng tiếp tục thực hiện Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 014SĐ-2023/EIB-PGDDT/TCTS.

[2.3] Hội đồng xét xử nhận thấy: H n mức cho vay đ ợc thể hiện trong các hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng E với bà Vũ Thị Ph ơng T2 là h n mức cho vay tối đa đ ợc phía ngân hàng xác định và thỏa thuận với khách hàng. Nh vậy, việc điều ch nh nghĩa vụ đ ợc bảo đảm của bên vay lên 1.500.000.000 đồng trong hợp đồng thế chấp không đồng nghĩa với việc xác định đây là khoản tiền cho vay của ngân hàng, mà việc vay và xác định số tiền vay đ ợc xác lập thông qua hình thức ký khế ớc nhận nợ.

Ngày 27/04/2023, bà Vũ Thị Ph ơng T2 ký Khế ớc nhận nợ số 1205-LDS-230000595 đối với khoản vay 600.000.000 đồng, có thời h n vay là 09 tháng; bà T2 thừa nhận đã đ ợc giải ngân đủ số tiền này. Nên xác định đây là khoản nợ gốc mà bà T2 phải có nghĩa vụ thực hiện với bên cho vay là ngân hàng E. Bị đơn kháng cáo cho rằng ngân hàng không thực hiện giải ngân khoản vay theo h n mức 1.500.000.000 đồng là vi ph m thỏa thuận, nên không đồng ý trả nợ và đề nghị ngân hàng tiếp tục cấp thêm vốn vay, là không có căn cứ.

[2.4] Do vậy, kháng cáo của bị đơn về việc đề nghị ngân hàng E tiếp tục thực hiện hợp đồng sửa đổi, bổ sung điều ch nh vốn vay là không có cơ s để chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Vũ Thị Ph ơng T2 và ông Trần Đức B trả d nợ gốc, tiền lãi phát sinh và tiền lãi chậm trả theo hợp đồng tín dụng đã ký là có căn cứ. Kháng cáo của bà T2 về nội dung này không có cơ s chấp nhận.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn về việc tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Để đảm bảo cho khoản vay t i ngân hàng E, ngày 20/7/2022 bà T2 thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 580, tờ bản đồ 21, diện tích 1.164m2 tọa l c t i TDP Cô Y, thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là thôn C, thị trấn Đ, t nh Lâm Đồng) đ ợc cấp Giấy chứng nhận số AD 712673 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 04/4/2006; ngày 21/7/2022 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L cập nhật đăng ký biến động.

[3.2] Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định t i chỗ thì hiện tr ng thửa đất số 580 có 05 ng ời đang quản lý, sử dụng. Cụ thể:

- Bà K4 đang quản lý, sử dụng phần diện tích 287m2, hiện tr ng có 01 căn nhà gỗ và 01 căn nhà cấp 4, nguồn gốc bà G nhận chuyển nh ợng từ bà Hoàng Vân A1 (mẹ bà T2) vào năm 2007 và sử dụng ổn định kể từ đó cho đến nay.

- Bà K1 đang quản lý, sử dụng phần diện tích 149m2, hiện tr ng có 01 căn nhà cấp 4 và các công trình phụ đ ợc xây dựng vào năm 2008.

- Bà K3 đang quản lý, sử dụng phần diện tích 240m2, hiện tr ng có 01 căn nhà gỗ và các công trình phụ.

- Bà K2 đang quản lý, sử dụng phần diện tích 155m2, hiện tr ng có 01 căn nhà gỗ và các công trình phụ.

- Phần diện tích còn l i 211m2, hiện tr ng có 01 căn nhà cấp 4 và các công trình phụ do bà Hoàng Vân A1 (mẹ bà T2) đang quản lý, sử dụng.

[3.3] Xét việc sử dụng đất của bà K4 và việc thế chấp phần đất do bà K4 đang sử dụng:

Diện tích 287m2 bà K4 xây dựng nhà trên đất là do bà G nhận chuyển nh ợng từ bà Hoàng Vân A1 (mẹ bà T2) vào năm 2007. Xét thấy hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa bà K4 và bà gia đình bà Vân A1 mặc dù không đ ợc công chứng, chứng thực nh ng bên nhận chuyển nh ợng đã giao đủ tiền, nhận đất, xây dựng công trình trên đất, sử dụng ổn định từ khi nhận chuyển nh ợng đến nay, thời điểm chuyển nh ợng, bên chuyển nh ợng đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đến nay giữa bên chuyển nh ợng và bên nhận chuyển nh ợng không có tranh chấp. Thửa đất số 580 có diện tích 1.164m2, trong đó có 400m2 đất và phần đất bà K4 đang sử dụng nằm góc của thửa đất 580 nên phần đất bà K4 sử dụng đủ điều kiện để tách thửa và không ảnh h ng đến phần đất còn l i của thửa 580. Do vậy, căn cứ Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 (Điều 45 Luật Đất đai 2024), khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 thì hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất giữa các bên đáp ứng đầy đủ các điều kiện để đ ợc công nhận hợp đồng, nên bà K4 đ ợc quyền sử dụng diện tích đất nêu trên.

T i thời điểm nhận thế chấp thửa đất số 580, E đã biết trên thửa đất số 580 có nhà và đất do bà K4 đang quản lý, sử dụng nh ng vẫn nhận thế chấp toàn bộ thửa đất. Nh đã nhận định trên, bà K4 đ ợc quyền sử dụng đất theo hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp (phần đất bà K4 sử dụng) là có căn cứ, kháng cáo của nguyên đơn về phần này không có cơ s chấp nhận.

[3.4] Xét việc sử dụng đất của bà K1, K3, K2 và việc thế chấp phần đất do các bà đang sử dụng:

Việc tranh chấp thửa đất số 580 giữa bà K1 (K) và ông Vũ Anh T3 (ông T3 là chồng bà Vân A1, cha bà T2) đã đ ợc Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết t i Bản án số 29/DSST ngày 08/7/1997, tuyên xử: “Bác yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất của bà Ka L. Giữ nguyên tình trạng sử dụng thửa đất số 580 tờ bản đồ số 21, diện tích 1.143m2 của ông Vũ Anh T3 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 246531 ngày 20/8/1993, tọa lạc tại thôn B C, thị trấn Đ, huyện L. Buộc ông Vũ Anh T3 phải thanh toán cho bà Ka L số tiền là 4.091.600đ”. Tòa án nhân dân t nh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm t i Bản án số 63/DSPT ngày 25/11/1997, xử bác yêu cầu kháng cáo của ông Vũ Anh T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Theo nội dung và nhận định của các Bản án nêu trên thì nguồn gốc thửa đất 580 là của bà Ka L đ ợc thôn giao đất. Năm 1987, bà Ka L giao l i cho ông T3 sử dụng (không có cơ s xác định cho m ợn hay sang nh ợng) bà ch nhận 5000 đ ông T3 thuê bà phá ụ mối và 01 cây đa trên v ờn. Ông T3 sau khi nhận đ ợc đất đã làm nhà và trồng cà phê trên đất. Tr ớc khi giao đất cho ông T3, bà Ka L cũng có công cải t o làm tăng giá trị đất nên Tòa án đã buộc ông T3 thanh toán cho bà Ka L một khoản tiền là 4.091.600 đ (theo giá đất của Nhà n ớc).

Nh vậy, theo nội dung và nhận định t i các Bản án nêu đối chiếu với các tài liệu khác nh đơn khiếu n i của gia đình ông T3 về việc bà Ka L chặt phá cà phê của gia đình ông thì có cơ s để khẳng định bà Ka L và các con đã đã làm nhà trên thửa đất số 580 sau khi các bản án giải quyết tranh chấp đất đai đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy, việc sử dụng đất của bà K1, K3, K2 là hành vi lấn chiếm đất đai, là trái pháp luật. Đối với số tiền mà theo bản án, ông T3 phải trả cho bà Ka L thì t i phiên tòa phúc thẩm các bà thừa nhận tr ớc đây gia đình bà không đồng ý nhận số tiền này nên số tiền đ ợc gửi t i Kho b c Nhà n ớc, không phải gia đình ông T3 không tự nguyện thi hành bản án đối với số tiền hoàn trả cho bà Ka L.

Án lệ số 11/2017/AL đ ợc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2017 và đ ợc công bố theo ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có tình hống và giải pháp pháp lý nh sau:

- Tình huống án lệ 1: Một bên thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc s hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nh ng trên đất còn có tài sản thuộc s hữu của ng ời khác; hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật.

- Giải pháp pháp lý 1: Tr ờng hợp này, Tòa án phải xác định hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.

- Tình huống án lệ 2: Bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp đ ợc bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất mà trên đất có nhà không thuộc s hữu của ng ời sử dụng đất.

- Giải pháp pháp lý 2: Tr ờng hợp này, khi giải quyết Tòa án phải dành cho chủ s hữu nhà trên đất đ ợc quyền u tiên nhận chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu.

Vụ án này có nội dung giống tình huống Án lệ số 11, nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng án lệ để giải quyết. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng E không cung cấp đ ợc hồ sơ thẩm định tài sản thế chấp, đồng thời xác định quyền sử dụng đất thế chấp còn có tài sản của những ng ời khác, từ đó không chấp nhận yêu cầu duy trì biện pháp bảo đảm tài sản đối với phần diện tích, tài sản do ng ời khác quản lý, sử dụng là không có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn về nội dung này có cơ s chấp nhận. Khi phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 580 thì những ng ời có tài sản trên đất đ ợc quyền u tiên nhận chuyển nh ợng quyền sử dụng đất đó nếu họ có nhu cầu.

[4] Về án phí: Do kháng cáo đ ợc chấp nhận nên Ngân hàng E, bà Vũ Thị Ph ơng T2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do bản án sơ thẩm bị sửa, nên án phí dân sự sơ thẩm đ ợc tính l i theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP X; bị đơn Vũ Thị Ph ơng T2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2025/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng:

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 116, Điều 117, Điều 129, Điều 299, Điều 303, Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 322, Điều Điều 357, Điều 422, Điều 428, 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của Ngân hàng TMCP X:

Buộc ông Trần Đức B và bà Vũ Thị Ph ơng T2 phải trả cho Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - L1 số tiền nợ gốc là 586.241.084 đồng, số tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29/10/2025) là 192.963.533 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 779.204.617 đồng (bảy trăm bảy m ơi chín triệu, hai trăm lẻ bốn ngàn, sáu trăm m ời bảy đồng).

Kể từ ngày 30/10/2025 (ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi thi hành án xong, vợ chồng ông Trần Đức B, bà Vũ Thị Ph ơng T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của Ngân hàng TMCP X về việc yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với diện tích 287m2 thuộc một phần thửa đất số 580, tờ bản đồ 21 tọa l c t i TDP Cô Y, thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là thôn C, thị trấn Đ, t nh Lâm Đồng) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 712673 do UBND huyện L, t nh Lâm Đồng cấp ngày 04/4/2006. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp số quyền sử dụng đất số 218ĐT- 2022/EIBĐT/TCTS ngày 20/7/2022 giữa Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - L1 với bà Vũ Thị Ph ơng T2 vô hiệu một phần (phần diện tích 287m2 bà K Gái đang sử dụng).

3. Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của Ngân hàng TMCP X. Tiếp tục duy trì một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 218ĐT-2022/EIBĐT/TCTS ngày 20/7/2022 giữa Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - PGD Đức Trọng với bà Vũ Thị Ph ơng T2 đối với diện tích 755m2 (phần đất do bà K1, K3, K, Hoàng Vân A1) thuộc một phần thửa đất số 580, tờ bản đồ 21 đất tọa l c t i TDP Cô Y, thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng) giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 712673 do UBND huyện L, t nh Lâm Đồng cấp ngày 04/04/2006 đ ợc Công chứng t i Văn phòng C; số công chứng 7886, quyển sổ 01/2022 TP/CC- SCC/HĐGD ngày 20/7/2022.

Trong tr ờng hợp ông Trần Đức B và bà Vũ Thị Ph ơng T2 không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ, thì Ngân hàng TMCP X có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất trên. Những ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các bà K’ Lớp, K’ Thiệp, K3, K4 đ ợc quyền u tiên nhận chuyển nh ợng quyền sử dụng đất nếu có nhu cầu.

4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà K3, bà K1 và bà K' Thiệp về việc tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 218ĐT-2022/EIBĐT/TCTS ngày 20/7/2022, giữa Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - PGD Đức Trọng với bà Vũ Thị Ph ơng T2 đối với diện tích 149m2 do bà K1 đang quản lý sử dụng; diện tích là 240m2 do bà K3 quản lý sử dụng; diện tích là 155m2 do chị K' Thiệp đang quản lý sử dụng và tài sản gắn liền với đất thuộc một phần thửa đất số 580 tờ bản đồ 21 đất tọa l c t i TDP Cô Y, thị trấn Đ, huyện L, t nh Lâm Đồng (nay là thôn C, xã Đ, t nh Lâm Đồng) giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 712673 do UBND huyện L, t nh Lâm Đồng cấp ngày 04/04/2006 đ ợc Công chứng t i Văn phòng C; số công chứng 7886, quyển sổ 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/7/2022.

(Kèm theo họa đồ đo đ c thửa đất ngày 11/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L).

5. Về án phí, chi phí tố tụng

- Chi phí tố tụng: Buộc Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L1 – L1 phải chịu số tiền 3.272.073 đồng tiền chi phí đo đ c và xem xét, thẩm định t i chỗ (đã đ ợc quyết toán xong). Buộc vợ chồng ông Trần Đức B, bà Vũ Thị Ph ơng T2 phải hoàn trả l i cho Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L1 – PGD Đức Trọng số tiền là 3.272.073 đồng tiền chi phí đo đ c và xem xét, thẩm định t i chỗ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[5.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc ông Trần Đức B, bà Vũ Thị Ph ơng T2 phải chịu số tiền 35.168.185 đồng án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP X.

- Buộc bà K3 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nh ng đ ợc tính trừ vào số tiền t m ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005320 ngày 01/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, t nh Lâm Đồng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lâm Đồng). Bà K3 đã nộp đủ án phí.

- Bà K1 đ ợc miễn án phí dân sự sơ thẩm.

- Buộc bà K2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nh ng đ ợc tính trừ vào số tiền t m ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005316 ngày 01/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, t nh Lâm Đồng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lâm Đồng). Bà K2 đã nộp đủ án phí.

- Buộc Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với việc Tòa án tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, nh ng đ ợc trừ vào số tiền 15.005.000 đồng t m ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005044 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, t nh Lâm Đồng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lâm Đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - L1 số tiền là 14.705.000 đồng.

[5.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:

- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh L1 - L1 số tiền 300.000 đồng t m ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008581 ngày 17/11/2025 của Thi hành án dân sự t nh Lâm Đồng.

- Hoàn trả cho bà Vũ Thị Ph ơng T2 số tiền 300.000 đồng t m ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008115 ngày 11/11/2025 của Thi hành án dân sự t nh Lâm Đồng.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ