- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, xử:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 218/2024/HS-PT Ngày 20 - 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Mai Văn Quang Các Thẩm phán:
Ông Hoàng Văn Thành
Ông Đinh Quốc Trí
- Thư ký phiên toà:
Bà Hoàng Thị Thu Thủy- Thư ký Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thu Hà - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 3 năm 2024, tại điểm cầu Q tâm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội (đường Phúc Diễn, quận N, thành phố Hà Nội), Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 175/2024/HSPT ngày 16 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Phùng Văn Đ1 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HSST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo: Phùng Văn Đ1, sinh ngày 11/01/1991; giới tính: nam; đăng ký thường trú: thôn Chu Mật, xã Th, huyện B, Hà Nội; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 2/12; con ông Phùng Văn S (chết) và bà Phùng Thị H; bị cáo có 02 tiền án (Ngày 21/11/2019, Tòa án nhân dân quận S xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/10/2021, bị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử phạt 26 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ra trại ngày 30/3/2023; tiền sự: không; nhân thân: ngày 25/9/2008, bị Tòa án nhân dân quận S xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 09/02/2010, Tòa án nhân dân quận S xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; ngày 13/7/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Đầu thú ngày 14/9/2023; Danh bản, chỉ bản số 594 ngày 24/9/2023 do Công an quận Đ lập; Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại không kháng cáo: Anh Nguyễn Nhật Tr, sinh năm 2004; Địa chỉ: Số 186A ngách 267/2 Hoàng Hoa Thám, phường L, quận B, Hà Nội. Vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân quận Đ, Hà Nội thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13h30’ ngày 08/9/2023, Phùng Văn Đ1 đến quán Internet (địa chỉ tầng 5 nhà số 47 phố Thái Hà, quận Đ, thành phố Hà Nội) để chơi. Khoảng 13h50’, khi đi về, Đ1 đi ngang qua một phòng game và phát hiện 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng của anh Nguyễn Nhật Tr Đng để trên ghế bên trái anh Tr ngồi. Lợi dụng anh Tr Đng đeo tai nghe, mải chơi game, không để ý, Đ1 đã lén lút dùng tay lấy chiếc điện thoại di động trên và bỏ đi. Đến khoảng 21h00’ cùng ngày, Đ1 mang chiếc điện thoại trên đến cửa hàng điện thoại Q Phong Mobile bán cho anh Chu Quang Q với giá 6.000.000 đồng, trong đó Đ1 nhận 1.500.000 đồng tiền mặt và 4.500.000 đồng chuyển khoản; Đ1 đã chi tiêu cá nhân hết số tiền này. Ngày 14/9/2023, Phùng Văn Đ1 đầu thú tại Cơ quan Công an phường Q Liệt.
Tại Kết luận định giá tài sản số 232/KL-HĐĐGTS ngày 25/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản quận Đ kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng 256gb đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá 17.000.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Chu Quang Q khai: Q và Phùng Văn Đ1 là người cùng quê, có quen biết nhau. Ngày 08/9/2023, Q có mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax 256GB màu vàng của Đ1. Khi mua Q có hỏi về nguồn gốc tài sản và được Đ1 cho biết chiếc điện thoại trên là của Đ1, do lâu không sử dụng, quên mật khẩu màn hình nên đem bán. Do tin tưởng, Q đã mua lại chiếc điện thoại trên để lấy linh kiện bên trong; Q tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại trên để phục vụ điều tra, không yêu cầu Đ1 trả số tiền 6.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HSST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phùng Văn Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Phùng Văn Đ1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2023
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/01/2024, bị cáo Phùng Văn Đ1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại; kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phùng Văn Đ1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, thấy: Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc Tr hợp “tái phạm nguy hiểm”; ngoài ra, nhân thân bị cáo còn nhiều lần bị kết án về loại tội xâm phạm sở hữu nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa sai lầm mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định xử phạt bị cáo 36 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên các quyết định của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai của những người liên quan, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Nhân thân Phùng Văn Đ1 đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 08/9/2023, tại quán Internet - tầng 5 nhà số 47 Thái Hà, phường Q Liệt, quận Đ, Hà Nội, Phùng Văn Đ1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng 256GB trị giá 17.000.000 đồng của anh Nguyễn Nhật Tr. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phùng Văn Đ1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng.
Xét kháng cáo của bị cáo, thấy: hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tội phạm xảy ra. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo phạm tội lần này thuộc Tr hợp định khung “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; Nhân thân đã nhiều lần bị xét xử về loại tội xâm phạm sở hữu nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa sai lầm mà tiếp tục phạm tội, cho thấy ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là đúng. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội có mức độ, tài sản chiếm đoạt không lớn (tài sản chiếm đoạt trị giá 17.000.000 đồng); sau khi phạm tội, bị cáo ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản bị cáo trộm cắp đã thu hồi trả cho bị hại; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Với các tình tiết nêu trên, xét thấy mức án 36 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do đó, có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ phần hình phạt của bị cáo.
Về án phí: Theo quy định của pháp luật, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phùng Văn Đ1 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/9/2023.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Phùng Văn Đ1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 20/3/2024.
| Nơi nhận: - VKS nhân dân thành phố Hà Nội; - VKSND quận Đ, HN; - Công an quận Đ, HN; - TAND quận Đ HN; - Chi cục THADS quận Đ, HN; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu HSVA; VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Quang |