- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Mỹ P ly hôn Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Mỹ P. Bà Trần Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 218/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 07- 2024 V/v :“Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Ngọc
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Phi Hổ
2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên , tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 478/2024/TLST- HNGĐ, ngày 08 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 239/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11/06/2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Trần Mỹ P, sinh năm 1976.
Địa chỉ: C, tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971.
Địa chỉ: C, tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Ông T, bà P có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tiến hành tố tụng bà Trần Mỹ P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn T quen biết từ năm 2012 đến năm 2019 thì đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 123 ngày 15/11/2019. Hôn nhân giửa ông T và bà P trên cơ sở tự nguyện không có sự cưỡng ép. Sau khi kết hôn sống hạnh phút đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xuất phát từ việc vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp và có lúc còn đánh nhau. Hai vợ chồng không còn thương yêu nhau và đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay xét thấy, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã hết sức trầm trọng không còn khả năng hàn gắn nên bà xin Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về Nợ chung: Bà P cam kết vợ chồng tôi không có nợ chung.
- Về án phí: Bà P xin tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Nguyễn Văn T nhưng ông Nguyễn Văn T không gửi cho Tòa án ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Trần Mỹ P và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ. Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo, giấy triệu tập mời ông Nguyễn Văn T đến Tòa án để lấy lời khai đối chất; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Văn T không đến Tòa án để làm việc.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng, bảo đảm sự vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án. Về nội dung tranh chấp: Cuộc sống hôn nhân của bà Trần Mỹ P và ông Nguyễn Văn T không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai. Do mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Mỹ P. Bà Trần Mỹ P khai không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Văn T cũng không có ý kiến về con chung, tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án không xem xét giải quyết con chung, tài sản chung và nợ chung của bà Trần Mỹ P và ông Nguyễn Văn T trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Mỹ P và ông Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Bà Trần Mỹ P và ông Nguyễn Văn T hiện đang sinh sống tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên đơn xin ly hôn của bà Trần Mỹ P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn T: Thông báo thụ lý vụ án”,“Giấy triệu tập”, “Thông báo thu thập được chứng cứ”,“Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải” nhưng ông Nguyễn Văn T vẫn không đến Tòa án làm việc. Do ông Nguyễn Văn T đã được thông báo nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải được. Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa do vắng mặt ông Nguyễn Văn T cũng đã được tiến hành tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Nguyễn Văn T vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn T theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bà Trần Mỹ P là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung tranh chấp: Bà Trần Mỹ P yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Về con chung bà Trần Mỹ P khai không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung bà Trần Mỹ P khai không có và bà P cam kết hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các nội dung này đã được Tòa án ghi rõ trong các Thông báo mà ông T đã được niêm yết hợp lệ nhưng ông Nguyễn Văn T không có ý kiến phản đối, không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.
Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà Trần Mỹ P và kết quả xác minh tại địa phương thì thấy cuộc sống chung của ông Nguyễn Văn T và bà Trần Mỹ P đã sống riêng, không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trên thực tế, bà Trần Mỹ P và ông Nguyễn Văn T không ai còn quan tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải cho ông Nguyễn Văn T để tiến hành hòa giải nhưng ông Nguyễn Văn T không đến, cho thấy ông Nguyễn Văn T không có thiện chí đoàn tụ với bà Trần Mỹ P. Do vậy yêu cầu của bà Trần Mỹ P về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà Trần Mỹ P khai không có con chung và ông Nguyễn Văn T không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về con chung trong vụ án này.
Về tài sản chung: Bà Trần Mỹ P khai không có và ông Nguyễn Văn T không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung của bà Trần Mỹ P và ông Nguyễn Văn T trong vụ án này.
Về nợ chung: Bà Trần Mỹ P khai không có nợ chung và ông Nguyễn Văn T không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này .
Về án phí: Bà Trần Mỹ P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 267, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Mỹ P. Bà Trần Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Bà Trần Mỹ P khai không có con chung và ông Nguyễn Văn T không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về con chung trong vụ án này.
3. Về tài sản chung, về nợ chung: Bà Trần Mỹ P khai không có và ông Nguyễn Văn T không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung và nợ chung của bà Trần Mỹ P1 ông Nguyễn Văn T trong vụ án này.
4. Về án phí: Bà Trần Mỹ P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Trần Mỹ P đã nộp theo biên lai thu số: 0002612 ngày 01/03/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Trần Mỹ P đã nộp đủ án phí.
Bà Trần Mỹ P1 ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đồng Nai; -VKSND TP Biên Hòa; -VKSND tỉnh Đồng Nai; -Các đương sự; -Thi hành án; -Lưu hồ sơ, Vp; -UBND phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai(giấy chứng nhận kết hôn số 123 ngày 15/11/2019) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Hồng Ngọc |