- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Bảo T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 218/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10 – 4 - 2024 V/v ly hôn Toàn – Về |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Phùng.
Ông Nguyễn Văn Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 530/2023/TLST - HNGĐ ngày 11/12/2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Bảo T, sinh năm 1980.
Bị đơn: Bà Dương Kim v, sinh năm 1983.
Cùng trú tại: tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
(Ông T có mặt, bà V vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2023 nguyên đơn ông Phạm Bảo T trình bày:
Ông T và bà V sau thời gian tìm hiểu, được sự đồng ý của hai bên gia đình, tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P năm 2008. Sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không còn phù hợp, vợ chồng thường xuyên cải nhau về chuyện tiền bạc, bà Kim V1 và gia đình chồng không tìm được tiếng nói chung, mẹ chồng và nàng dâu thường xuyên cải nhau vì thế vợ bỏ lên Đồng Nai tìm việc làm, không chịu về quê sống cùng ông T. Khi ông T nộp đơn ly hôn có điện thoại cho bà Kim V1 nhưng bà Kim V1 nói yêu cầu Toà xử vắng mặt. Vợ chồng ly thân với nhau hơn 02 năm nay, nay tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với bà Kim V1
- Về con chung: 02 con chung tên Phạm Thị Khả Á, sinh ngày 08/01/2007, Phạm Bảo C, sinh ngày 26/10/2009, Khả Á đang sống chung với ông T, B chung đang sống chung với Kim V1, khi ly hôn ông T yêu cầu tiếp tục nuôi Khả Ái, Bảo Chung bà Kim V1 nuôi, không ai cấp dưỡng cho ai
Tài sản chung: Không có; nợ chung: Không.
Bị đơn bà Dương Kim V2 vắng mặt từ khi Toà án thụ lý nên không có lời trình bày.
Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân được đại diện ấp P, xã P cung cấp thông tin: bà Dương Kim V2, sinh năm 1983 có hộ khẩu thường trú tại ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Ông T, bà V2 là vợ chồng, tuy nhiên hiện tại không còn thấy bà V2 sống chung ông T nguyên nhân cụ thể như thế nào thì địa phương không rõ.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Bà V2 không có mặt theo các thông báo là thực hiện không đúng Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu cho ông T được ly hôn với bà Kim V2. Giao con chung Phạm Thị Khả Á, sinh ngày 08/01/2007 cho ông T nuôi dưỡng; giao con chung Phạm Bảo C, sinh ngày 26/10/2009 cho bà V2 tiếp tục nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: ông T yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với bà Kim V2 nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1 Về hôn nhân: bà Kim V2 và ông T tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống và có đăng ký kết hôn năm 2008 là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Ông T cho rằng bà V2 và gia đình chồng không phù hợp lối sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau về chuyện tiền bạc, mẹ chồng nàng dâu không tìm được tiếng nói chung vì thế bà Kim V2 bỏ lên Đồng Nai tìm việc làm, không chịu về quê sống cùng ông T, khi ông T nộp đơn ly hôn có điện thoại cho bà Kim V2 hay nhưng bà không chịu về yêu cầu Toà xét xử vắng mặt, vợ chồng ly thân từ năm 2022 đến nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, ông T xin ly hôn bà Kim V2.
Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau….”. Thế nhưng vợ chồng ông T, bà V2 không còn chung sống khoảng 02 năm nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho ông T được ly hôn bà Kim V2.
[2.2] Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Thị Khả Á, sinh ngày 08/01/2007, Phạm Bảo C, sinh ngày 26/10/2009, Khả Á đang sống chung với ông T, Bảo C đang sống chung với bà Kim V2, khi ly hôn ông T yêu cầu tiếp tục nuôi Khả Ái, đồng ý giao Bảo Chung cho bà Kim V2 nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng cho ai. Xét từ khi ly thân đến nay con chung đang sống với Về, có cuộc sống ổn định, nên tiếp tục giao cháu Bảo C cho bà V2 tiếp tục nuôi dưỡng, cháu Khả Á cho ông T nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và phù hợp bảng tự khai ngày 20/02/2024. Bà Kim V2 và ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
[2.3] ông T trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
[2.4] Về án phí: Ông T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Bảo T
Về hôn nhân: Cho ông Phạm Bảo T được ly hôn bà Dương Kim V2.
Về con chung: Giao con chung Phạm Thị Khả Á, sinh ngày 08/01/2007 cho ông T nuôi dưỡng, giao con chung Phạm Bảo C, sinh ngày 26/10/2009 cho bà Kim V2 được tiếp tục nuôi dưỡng. Ông T, bà Kim V2 không phải cấp dưỡng cho con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.
Về án phí: ông Phạm Bảo T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006426 ngày 11/12/2023 của Chi cục Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Ông T không phải nộp thêm án phí.
Bà Dương Kim V2 không phải chịu án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. bà Kim V2 vắng mặt thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Ngọc Thảo |