vanban.org

Bản án 218/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao (hợp nhất Nghị quyết số…

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/11/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tái sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao (hợp nhất Nghị quyết số…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp d…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2023/HS-ST
Ngày: 09-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thế Chính.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Kim Lý.

Bà Nguyễn Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03 và ngày 09 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 192/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/HSST-QĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên bị cáo: Huỳnh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1984 tại Q. Hộ khẩu thường trú: Khu dân cư 16, Thôn 4, xã Đ, huyện M, tỉnh Q; tạm trú: Nhà trọ N, Số 10, Đ, Tổ 1, ấp C, xã T, huyện C, thành phố H; nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q, vợ tên Dương Thị Bích T, sinh năm 1987, có 02 người con sinh năm 2013 và năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 01/9/2022, sau đó chuyển sang tạm giữ, tạm giam đến ngày 25/11/2022 được trả tự do. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Bị hại: Tổng công ty Đ. Trụ sở chính: Số 8, đường H, phường H, thành phố T, tỉnh B.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phan Trung T1, sinh năm 1979 - Nhân viên Xí nghiệp P. Địa chỉ: Tổ 2, ấp T, xã A, thị xã B, tỉnh B (Văn bản ủy quyền ngày 01/9/2022); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Võ Thị Thu T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số 64, Đường số 640, ấp P, xã P, huyện C, thành phố H; vắng mặt.

Những người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1993; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Ông Lê Trần Minh H, sinh năm 2002; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Nguyễn Quốc T là thợ điện nên biết các tủ điện đèn có gắn thiết bị hẹn giờ bật, tắt hệ thống đèn chiếu sáng. Giữa tháng 8/2022 và ngày 01/9/2022, do không có tiền tiêu xài nên T đến các tụ điện trong Khu công nghiệp Mỹ Phước thuộc Khu phố 1, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:

Lần 1: Khoảng giữa tháng 8/2022, Huỳnh Nguyễn Quốc T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha biển số 55Y6-1825 đi từ xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh đến tủ điện của Xí nghiệp Phát triển Công nghiệp và Đô thị Mỹ Phước thuộc Tổng công ty Đ tại Khu phố 1, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương và có hành vi lén lút dùng kìm cộng lực mang theo cắt lấy được 01 bộ điều khiển LoGo Simens 230 RCE 1P6ED1052-1FB08-0BA0-SV-M1B568082020 bỏ vào ba lô mang theo đem về phòng trọ của T.

Lần 2: Khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 01/9/2022, Huỳnh Nguyễn Quốc T tiếp tục điều khiển xe môtô Wave Alpha biển số 55Y6-1825 đến tủ điện của Xí nghiệp Phát triển Công nghiệp và Đô thị Mỹ Phước thuộc Tổng công ty Đ tại Khu phố 1, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương và có hành vi lén lút dùng kìm cộng lực mang theo cắt lấy được 01 bộ điều khiển LoGo Simens 230 RCE 1P6ED1052-1FB08-0BA1-SV-M1E 352602022 bỏ vào trong ba lô màu đen trên xe rồi điều khiển xe chạy đi. Lúc này, ông Nguyễn Minh T2 và ông Lê Trần Minh H là nhân viên bảo vệ phát hiện đuổi theo, báo lực lượng Đồn Công an Khu công nghiệp Mỹ Phước bắt giữ T. Sự việc được chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm:

01 cây kìm bằng kim loại màu đen kích thước 23cm.

01 xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha màu trắng đen gắn biển số 55Y6-1825, số khung RRKWCH1UM7XB09029, số máy VTT18JL1P52TMH009029.

01 bộ điều khiển LoGo Simens 230 RCE 1P6ED1052-1FB08-0BA0-SV-M1B568082020 và 01 bộ điều khiển LoGo Simens 230 RCE 1P6ED1052-1FB08-0BA1-SV-M1E 352602022.

01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Huỳnh Nguyễn Quốc T.

Tại Kết luận định giá tài sản số 116/KL-HĐĐGTS ngày 07/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định:

01 bộ điều khiển LoGo Simens 230 RCE 1P6ED1052-1FB08-0BA0-SV-M1B568082020 trị giá 2.220.000 đồng.

01 bộ điều khiển LoGo Simens 230 RCE 1P6ED1052-1FB08-0BA1-SV-M1E 352602022 trị giá 2.220.000 đồng.

Đối với biển số xe 55Y6-1825 là của xe môtô nhãn hiệu Milkyway có số khung FMG-004160, số máy: UM9A-004160 của bà Võ Thị Thu T. Năm 2014, bà T bán xe cho một người không rõ nhân thân, lai lịch. Năm 2017, Huỳnh Nguyễn Quốc T mua xe lại của một người không rõ nhân thân, lai lịch để sử dụng. Qua tra cứu, xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha màu trắng đen có số khung RRKWCH1UM7XB09029, số máy VTT18JL1P52TMH009029 không có thông tin chủ sở hữu, không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Ngày 12/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đã trả cho ông Phan Trung T1 (Là người đại diện hợp pháp của bị hại): 01 bộ điều khiển LoGo Simens 230 RCE 1P6ED1052-1FB08-0BA0-SV-M1B568082020 và 01 bộ điều khiển LoGo Simens 230 RCE 1P6ED1052-1FB08-0BA1-SV-M1E 352602022.

Tại Cáo trạng số 211/CT-VKSBC ngày 30/9/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 cây kìm bằng kim loại màu đen kích thước dài 23cm là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha màu trắng đen gắn biển số 55Y6-1825, số khung RRKWCH1UM7XB09029, số máy VTT18JL1P52TMH009029 là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo thống nhất kết luận định giá, nội dung cáo trạng truy tố, không tranh luận, chỉ nói lời sau cùng xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt.

Về nội dung vụ án:

Khoảng giữa tháng 8/2022 và ngày 01/9/2022, tại các tủ điện trên đường DE5 thuộc Khu phố 1, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 bộ thiết bị điều khiển của Xí nghiệp Phát triển Công nghiệp và Đô thị Mỹ Phước thuộc Tổng công ty Đ, cụ thể:

Lần 1: Khoảng giữa tháng 8/2022, bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T có hành vi lén lút lấy trộm 01 bộ điều khiển LoGo Simens 230 RCE 1P6ED1052-1FB08-0BA0-SV-M1B568082020 trị giá 2.220.000 đồng.

Lần 2: Ngày 01/9/2022, bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T có hành vi lén lút lấy trộm 01 bộ điều khiển LoGo Simens 230 RCE 1P6ED1052-1FB08-0BA1-SV-M1E 352602022 trị giá 2.220.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị cáo lén lút chiếm đoạt của bị hại là 4.440.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số 211/CT-VKSBC ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, T1 tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử mức hình phạt nghiêm nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội là tình tiết quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại và bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo, thời gian bị tạm giam bị cáo đã nhận ra hành vi sai trái. Để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp ngăn chặn: Xét bị cáo sẽ bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và hủy bỏ biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 cây kìm bằng kim loại màu đen kích thước dài 23cm là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha màu trắng - đen, số khung RRKWCH1UM7XB09029, số máy VTT18JL1P52TMH009029, gắn biển số 55Y6-1825 (xe không gương, không khóa, xe trầy xước, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) là phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với bị cáo là chưa phù hợp nên không chấp nhận, đối với đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao (hợp nhất Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao):

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/11/2023).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về biện pháp ngăn chặn:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 107/LCĐKNCT-TA ngày 01/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 10, Điều 11 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 07/8/2018 của Bộ Công an, Bộ Quốc Phòng, Bộ Tài chính, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao:

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đã nộp vào số tài khoản 39490904529200000 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát mở tại Kho bạc Nhà nước thị xã Bến Cát (ông Huỳnh Nguyên Thái nộp thay bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T Theo Quyết định về việc đặt tiền để bảo đảm số 07/QĐ-CQĐT-ĐTTH ngày 25/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát).

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 cây kìm bằng kim loại màu đen kích thước dài 23cm.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha màu trắng - đen, số khung RRKWCH1UM7XB09029, số máy VTT18JL1P52TMH009029, gắn biển số 55Y6-1825 (xe không gương, không khóa, xe trầy xước, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2023 giữa Công an thị xã Bến Cát và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Huỳnh Nguyễn Quốc T phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ