- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trinh Huy N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA Bản án số: 218/2023/HS-ST Ngày: 07- 6- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN ND THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Oanh
Ông Lê Văn Tám
- Th ký phiªn toµ:
Bà Nguyễn Thị Hải Hà - Thư ký Tßa ¸n TP Thanh Ho¸.
- §¹i diÖn VKSND Thµnh phè Thanh Ho¸ tham gia phiªn toµ:
Bà Nguyễn Hồng O - Kiếm sát viên
Ngày 07 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 241/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2023/QĐXXST - HS ngày 24/5/2023 đối với bị cáo:
Trịnh Huy N - sinh năm 2003 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Huy K và bà: Trịnh Thị H; Tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: ngày 11/02/2023 đến ngày 20/02/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”. Bị hại: Anh Lê Công H1 - sinh năm 1980 “vắng mặt’
Trú tại: S N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/02/2023, Trịnh Huy N đi xe khách từ Thành phố Hà Nội về thành phố T. Do bị mất ví, không có giấy tờ tùy thân và tiền để chi tiêu nên N sống lang thang tại công viên H và nảy sinh ý định trộm cắp để lấy tiền sinh hoạt cá nhân. Đến khoảng 03h00 ngày 11/02/2023, N đi từ công viên H rẽ vào đường N, phường Đ, thành phố T nhặt được 01 dôi gang tay bằng vải màu trắng nên đã đeo vào nhằm che dấu vân tay. Tiếp đó, N trèo tường đột nhập vào nhà anh Lê Công H1 mở tủ lạnh đặt ở ngoài hiên bếp để tìm thức ăn. Thấy cửa phòng khách không khóa, N đi vào nhưng không phát hiện tài sản gì có giá trị. N tiếp tục đi vào phòng ngủ nhìn thấy vợ chồng anh H1 đang nằm ngủ, trên két sắt gần đầu giường có 01 điện thoại Iphone 5 và trên giường có 01 điện thoại Iphone 8, Nam lén lút lấy 02 điện thoại trên và 01 túi xách màu nâu treo ở cây quần áo gần két sắt (bên trong túi không có tài sản gì). Khi N cầm tài sản vừa trộm cắp được đi ra ngoài phòng khách thì bị anh H1 cùng gia đình hô hoán “có trộm”. Lúc này, Công an phường Đ đang tiến hành tuần tra kiểm soát gần đó nghe tiếng tri hô liền lập tức có mặt cùng gia đình anh H1 phối hợp bắt quả tang hành vi trộm cắp của N.
Ngày 14/02/2023 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự đã trị giá chiếc chiếc điện thoại Iphone 8 màu trắng có giá trị 2.300.000đ và 01 điện thoại Iphone 5 có giá trị 500.000đ. Tổng tài sản chiếm đoạt là 2.800.000đ, anh H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Đối với đôi găng tay màu trắng N sử dụng vào mục đích phạm tội, Cơ quan Công an đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định. Tại bản cáo trạng số 185/CT-VKS ngày 08 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố Trịnh Huy Nam về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về vật chứng và án phí.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo không có đề nghị gì
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở chứng minh: Vào khoảng 03h 00 phút ngày 11/02/2023, Trinh Huy N1 đã trộm cắp của anh Lê Công H1 01 chiếc điện thoại Iphone 8 trị giá 2.300.000đ và 01 diện thoại Iphone 5 trị giá 500.000đ. Tổng tài sản trộm cắp 2.800.000đ
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Trịnh Huy N có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.
Tính chất vụ án: Lợi dụng chủ sở hữu tài sản sơ hở trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã nhanh chóng lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã xâm phạm đến trật tự trị an nói chung mà còn xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân nói riêng, do đó cần được xử lý nghiêm minh.
Khi áp dụng hành phạt cần căn cứ điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại các cơ quan pháp luật thành khẩn khai báo, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình bị cáo có bà nội là người có công với cách mạng.
Với nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mặt khác bị cáo có nơi cư trú trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội, căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Công H1 đã nhận lại tài sản đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm nên công nhận phần dân sự giữa bị cáo và anh H1 đã được giải quyết xong.
Về vật chứng: Đối với 01 đôi găng tay màu trắng N sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trinh Huy N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Trịnh Huy Nam 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã được giải quyết xong.
Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01đôi găng tay vải len màu trắng đã qua sử dụng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 186/THA ngày 07/6/2023.
Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TPTH; - Công an TPTH; - TAND tỉnh TH - VKD ND tỉnh T - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thủy |