vanban.org

Bản án 218/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 21.6.2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bùi minh tân - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2022/HS-ST
Ngày: 14.12.2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2022/HSST-QĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Bùi Minh T, sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 31/4 ấp T, xã T, huyện H, thành phố H; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Minh T và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ là Lý Cẩm L và 01 con sinh năm 2011; Nhân thân: Ngày 21/12/2009 bị Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; Tiền án: Ngày 08/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 21/6/2020 chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/6/2022 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Hóc Môn; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

* Bị hại:

1. Ông Trần Minh T, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Thường trú: 190 tỉnh lộ 10, ô 5, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh L.

Chỗ ở: 38/7 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố H.

2. Bà Vương Diệp Minh T, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: 38/7 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố H.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố Q.

2. Ông Đỗ Trọng B, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: 63/4B ấp V, xã T, huyện H, Thành phố H.

3. Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố Q.

Chỗ ở: 292 Cộng Hòa, phường 13, quận T, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 26/01/2022 Bùi Minh T rủ bạn tên T (không rõ lai lịch) đi trộm cắp tài sản, T đồng ý. T mang theo 01 bộ đoản, 01 bình xịt hơi cay và điều khiển xe máy biển số 76U1-156.57 chở T cùng đi. Khi đến khu vực kênh T2, thuộc ấp Tân Thới 3, xã Tân Hiệp, T phát hiện vợ chồng anh Trần Minh T đang câu cá và dựng xe máy hiệu Future Neo biển số 52Y4-7621 trên bờ kênh. T dừng xe hỏi chuyện nhằm làm anh T mất cảnh giác, lợi dụng lúc vợ chồng T quay mặt xuống kênh câu cá thì T leo lên xe máy có cắm sẵn chìa khóa, đề nổ máy tẩu thoát, T cũng điều khiển xe bỏ chạy theo. Khi nghe tiếng xe máy nổ, anh T quay lại nhìn thấy xe máy bị lấy trộm nên truy hô đuổi theo, do không biết đường nên T và T chạy lòng vòng bị người dân chặn đường, T bỏ xe và leo lên xe T chở bỏ chạy được 01 đoạn thì bị người dân đuổi kịp nên cả hai vứt xe nhảy xuống kênh tẩu thoát nhưng T bị bắt giữ, riêng T thoát được.

Kết quả định giá số 45/KL-HĐĐGTS ngày 14/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Hóc Môn kết luận: 01 xe máy hiệu Honda Future Neo biển số 52Y4-7621, trị giá 12.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe máy hiệu Honda Future Neo biển số 52Y4-7621 (đã trả chủ sở hữu).

- 01 xe máy hiệu Wave biển số 76U1-156.57 có SK: RLHJC4314BY165433, SM: JC43E-1726073. Kết luận giám định số khung, số máy nguyên thủy, không thay đổi, qua xác minh không có trong dữ liệu quản lý. Cơ quan cảnh sát điều tra thông báo truy tìm chủ sở hữu theo quy định nhưng đến nay chưa có ai đến trình báo.

Đối với biển số 76U1-156.57 là biển số xe gắn máy hiệu Honda SH Mode do Nguyễn Thị T đứng tên sở hữu. Qua làm việc, chị T trình bày cho con trai Nguyễn Hữu T sử dụng nhưng đã bị mất trộm tại quận Tân Bình. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã chuyển biển số 76U1-156.57 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình thụ lý giải quyết.

- 01 bộ đoản để bẻ khóa xe máy.

- 01 bình xịt hơi cay, qua giám định xác định thuộc nhóm công cụ hỗ trợ, Cơ quan điều tra chuyển vật chứng đến Công an huyện để xử lý hành chính.

Đối với tên T chưa rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh điều tra, xử lý sau.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số 188/CT-VKS-HS ngày 26 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Bùi Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Minh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ đoản để bẻ khóa xe máy. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe máy hiệu Wave có SK: RLHJC4314BY165433, SM: JC43E-1726073.

Bị cáo Bùi Minh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Minh T khai nhận: Bản thân vì mục đích vụ lợi cá nhân, vào ngày 26/01/2022, bị cáo cùng với T (không rõ lai lịch) có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bị hại 01 xe máy hiệu Honda Future Neo biển số 52Y4-7621, trị giá 12.000.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các vật chứng cùng các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm sở hữu tài sản của công dân, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về nhân thân bị cáo:

Ngày 21/12/2009 bị Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Tiền án:

Ngày 08/7/2019 bị TAND huyện Hóc Môn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 21/6/2020 chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích.

Tiền sự: không.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: Tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe máy hiệu Honda Future Neo biển số 52Y4-7621, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã trả chủ sở hữu.

- Đối với 01 bình xịt hơi cay, qua giám định xác định thuộc nhóm công cụ hỗ trợ, Cơ quan điều tra chuyển vật chứng đến Công an huyện để xử lý hành chính.

- Đối với biển số 76U1-156.57 là biển số xe gắn máy hiệu Honda SH Mode do Nguyễn Thị T đứng tên sở hữu. Qua làm việc, chị T trình bày cho con trai Nguyễn Hữu T sử dụng nhưng đã bị mất trộm tại quận Tân Bình. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã chuyển biển số 76U1-156.57 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình thụ lý giải quyết.

- Đối với 01 xe máy hiệu Wave có SK: RLHJC4314BY165433, SM: JC43E-1726073, Hội đồng xét xử xét thấy giao xe này cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe nêu trên. Nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại xe cho họ. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có người nào đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 bộ đoản để bẻ khóa xe máy, bị cáo dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: do không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Bùi Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Minh T 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày 21.6.2022.

2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ đoản bẻ khóa xe máy.

Giao 01 xe máy hiệu Wave có SK: RLHJC4314BY165433, SM: JC43E-1726073 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe nêu trên. Nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại xe cho họ. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có người nào đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.

(Vật chứng của vụ án do Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 148/QĐ-VKS-HS ngày 19/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn)

3. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ