- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vận chuyển ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mh SrN, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật hình sự và hướng dẫn; Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 218/2022/HS-PT Ngày: 20 – 4 – 2022 | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 4 năm 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Phan Nhựt Bình
Ông Phan Văn Yên
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đảm – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 451/2020/TLPT-HS ngày 11 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo Miech SreyNeang do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2020/HSST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 745/2020/QĐXXPT – HS, ngày 01/12/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo: Mch SNe, sinh ngày 04 tháng 7 năm 1993 tại Campuchia. Nơi cư trú: Phường Ta Nguon KK, quận P Ch, Thành phố Ph P, vương quốc Campuchia; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Campuchia; con ông Mih X (chết) và bà Xuon T (chết); có chồng: LL (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ và tạm giam từ ngày 02/12/2019 cho đến nay (có mặt) Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn Đ – Công ty Luật TNHH Vạn Lộc thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
Người phiên dịch: Phiên dịch viên Sem Sambath – Nhân viên Công ty Dịch thuật 123 Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: Số 696 đường Điện Biên Phủ, Phường 10, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 02/12/2019, tại máy soi luồng nhập cảnh Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài, Chi cục Hải quan Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tây Ninh và các lực lượng chức năng, tiến hành soi chiếu 01 (một) valy màu đen của người khách nhập cảnh tên Mh SrN, phát hiện bên trong valy có 05 (năm) gói hình vuông quấn keo giấy màu trắng, kiểm tra 05 (năm) gói hình vuông thì phát hiện đều có đặc điểm: Dưới lớp keo giấy màu trắng là giấy màu xanh, dưới lớp giấy màu xanh là bọc nylon màu vàng, dưới bọc nylon màu vàng là bọc nylon màu trắng chứa chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M) nghi là chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng xử lý.
Tại Kết luận giám định số: 1777/KL-KTHS ngày 05/12/2019 của Phòng Kỹ thuật Công an tỉnh Tây Ninh: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 05 (năm) gói hình vuông quấn keo giấy màu trắng (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; là loại Methamphetamine; khối lượng 4943,0996 gam.
Mh SrN khai nhận: Vào khoảng tháng 10 năm 2019, qua mạng Facebook, Mh SrN có quen một người phụ nữ tên Ly Na (tên thường gọi là Thia Ra) quốc tịch Campuchia. Trong quá trình quen biết, Ly Na thường cho tiền bị cáo Mh SrN tiêu xài. Vào ngày 30/11/2019, Ly Na có đến nhà bị cáo Mh SrN thuê bị cáo mang một chiếc valy từ Campuchia sang Việt Nam sẽ được trả tiền công 100 USD thì bị cáo Mh SrN đồng ý. Khoảng 08 giờ ngày 02/12/2019, Ly Na mang valy màu đen đến sau chợ La Za Chôn Chary, giao cho bị cáo Mh SrN cùng 02 vé xe buýt của Công ty KumHo để đi sang Việt Nam. Ly Na dặn bị cáo khi nào đến bến xe Việt Nam điện vào số điện thoại +84907910056 sẽ có người ra nhận và căn dặn bị cáo Mh SrN sau khi giao valy xong thì đón taxi về Khách sạn Mai Hương địa chỉ: 21 cầu Xéo, phường Tân Quy, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh ở lại đó chờ Ly Na chỉ dẫn tiếp.
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/12/2019, bị cáo Mh SrN lên xe buýt KumHo, biển số 50LD-12647 đi từ Thành phố Phnom Penh sang Việt Nam, đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, xe buýt chạy đến Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài thuộc huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Mh SrN xuống xe và mang valy màu đen vào trong khu vực Hải quan để làm thủ tục nhập cảnh, thì bị bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS-P1 ngày 21/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Mh SrN về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2020/HSST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh: Tuyên bố bị cáo Mh SrN phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mh SrN mức án Tử hình.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 06/8/2020 bị cáo Mh SrN có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu giảm nhẹ hình phạt, lý do không biết bên trong chiếc va ly bị bắt có chứa ma túy. Bị cáo bị lừa vì nghĩ rằng bên trong chỉ có quần áo.
Tại phiên tòa phúc thẩm vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về tội danh và mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là phù hợp, đã đánh giá toàn diện vụ án, áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ đúng quy định. Tại phiên tòa bị cáo kêu oan và trình bày do không biết trong vali túi là gì chỉ mang để gửi dùm nhưng không đưa ra được tình tiết chứng minh cho lời trình bày của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận và đề nghị: Bị cáo khai nhiều lần đi qua cửa khẩu Mộc Bài đưa con đi khám chữa bệnh nhưng cấp sơ thẩm không làm rõ lời khai này của bị cáo. Không làm rõ người sử dụng số điện thoại +084907910056, gọi cho bị cáo với nội dung, mục đích gì? Bị cáo khai do Ly Na nhắn tin số điện thoại của bị cáo cho đối tượng ở Việt Nam và trên đường đến gần cửa khẩu Mộc Bài thì có liên hệ với bị cáo (BL30, 31). Hồ sơ xác định người sử dụng số điện thoại trên là Phạm Thị Quỳnh Hoa nhưng không truy tìm đối tượng này (BL120, 123). Số điện thoại 087231242 liên lạc với những ai. Tài liệu chứng cứ do Lãnh sự quán vương quốc Cam Pu Chia cung cấp xác định có nhân vật Ly Na. Việc điều tra không đầy đủ dẫn đến không đánh giá đúng vai trò của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 358 Bộ luật hình sự hủy án sơ thẩm.
Kiểm sát viên đối đáp phần tranh luận của luật sư: Việc bị cáo đi qua cửa khẩu Mộc Bài bao nhiêu lần không liên quan đến việc chứng minh bị cáo vô tội. Bị cáo vận chuyển ma túy qua cửa khẩu Mộc Bài bị bắt quả tang nên phải chịu trách nhiệm về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Đối với người phụ nữ tên Ly Na và Phạm Thị Quỳnh Hoa bản Cáo trạng xác định cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Bị cáo thống nhất lời bào chữa của luật sư, không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Xin được xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong hạn luật định bị cáo có đơn kháng cáo nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ và thực hiện đúng quy định về thủ tục tố tụng, thẩm quyền giải quyết, lý lịch tư pháp của bị cáo.
Về nội dung vụ án: Qua xem xét toàn bộ lời khai nhận của bị cáo với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Ngày 02/12/2019 bị cáo Mh SrN là người quốc tịch Campuchia, nhập cảnh vào Việt Nam tại Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài, qua kiểm tra thủ tục hành chính, Chi cục Hải quan phối hợp với Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và các lực lượng chức năng tiến hành soi chiếu và kiểm tra bên trong chiếc valy màu đen của bị cáo Mh SrN, có chứa 05 gói hình vuông quấn keo màu trắng, tiếp tục kiểm tra từng gói này được quấn lớp giấy màu xanh, tiếp là bọc nilon màu vàng, kế tiếp là bọc nylon màu trắng bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng.
Tại kết luận giám định số: 1777/KL-KTHS ngày 05/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận Mẫu tinh thể bên trong 05 gói hình vuông quấn keo màu trắng gửi giám định là chất ma túy, tên gọi Mh SrN, khối lượng 4.943,0996 gam. Bị cáo khai nhận đã nhận trước tiền vận chuyển thuê là 100USD. Bị cáo đã có hành vi dịch chuyển bất hợp pháp khối lượng ma túy trên từ Campuchia vào Việt Nam mục đích để giao cho người khác, nhằm hưởng lợi ích vật chất. Cụ thể, biên bản ghi lời khai ngày 03/12/2019 tại Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh (BL27), bị cáo khai “Trước đó tôi đã được Ly Na cho tiền tiêu xài được nhiều lần được tổng cộng 90 đô la Mỹ, và lần vận chuyển này Ly Na đã đưa cho tôi 100 đô la Mỹ và đã đổi ra được tiền Việt nam 2.300.000 đồng”, biên bản ghi khai ngày 03/12/2019 tại Cơ quan cảnh sát điều tra (Bl 31): “ Ly Na rủ cho tôi mượn 100 USD và đến chiều ngày 01/12/2019 điện thoại gởi va ly”. Đủ cơ sở kết luận bị cáo Mh SrN phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 250 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước Việt Nam về loại độc chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại khu vực biên giới.
Tính chất vụ án đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, bị cáo nhập cảnh vào Việt Nam để vận chuyển chiếc valy màu đen bên trong có chứa ma túy, qua đối chiếu vật chứng thu giữ phù hợp với lời khai của bị cáo và qua kiểm tra dữ liệu điện thoại di động của bị cáo, thể hiện bị cáo có lưu giữ nhiều hình ảnh các đối tượng liên quan đến ma túy bị các lực lượng chức năng bắt giữ về tội phạm ma túy, bị cáo nhận thức rõ ma túy là loại độc chất có hại cho sức khỏe của con người, với khối lượng ma túy rất lớn như bị cáo đã vận chuyển, sẽ gây tác hại vô cùng đối với con người và xã hội Việt Nam, biết rõ việc vận chuyển chất ma túy là tiếp tay cho những đối tượng mua bán ma túy bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện vì mục đích, động cơ tư lợi cá nhân, ham muốn thu lợi bất chính mà bất chấp pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cụ thể:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: không có.
Với khối lượng 4943,0996 gam Methamphetamine, căn cứ vào điểm b Khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án: Tử hình đối với bị cáo là tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết gì mới để chứng minh nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mh SrN, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Tuyên bố bị cáo Mh SrN phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mh SrN: Tử hình.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
2. Về án phí:
Bị cáo Mh SrN phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật (ngày tuyên án phúc thẩm), bị cáo được quyền làm đơn xin ân giảm án tử hình gửi đến Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ./.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 24/2020/HSST ngày 31/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ GĐKT I) (1); - VKSND Cấp cao tại TP.HCM (1); - VKSND Tp. HCM (1); - TAND tỉnh TN (2); - Sở Tư pháp tỉnh TN (1); - Công an tỉnh T N (1); – Cục THADS tỉnh TN (1); - Trại tạm giam CA tỉnh TN (1); - Bị cáo kháng cáo (1); - Lưu hồ sơ (2); - Lưu LT, HCTP (5) (ĐHV). CÁC THẨM PHÁN Phan Nhựt Bình Phan Văn Yên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Trí Tuấn HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trí Tuấn |