vanban.org

Bản án 218/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Huy T được ly hôn chị Đặng Thị H.

Về con chung: Giao con chung của anh Nguyễn Huy T và chị Đặng Thị H là Nguyễn Đặng Tuấn A, sinh ngày 31/8/2012 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/6/2014 cho anh Nguyễn Huy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Tạm miễn cho chị Đặng Thị H việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh T xin ly hôn chị H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Huy T được ly hôn chị Đặng Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 24 - 12 - 2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Phương.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Lương Đức.

2. Bà Nguyễn Thị Thùy Hương.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Tuấn Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 156/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2021/QĐXX - ST ngày 08 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Huy T, sinh năm 1991.

Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn C, xã T, huyện P, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

2. Bị đơn:

Chị Đặng Thị H, sinh năm 1989.

Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn C, xã T, huyện P, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Nguyễn Huy T trình bày:

Anh với chị Đặng Thị H kết hôn với nhau từ tháng 9 năm 2011 là hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại thôn C, xã T, huyện P, Thành phố Hà Nội. Sau một thời gian chung sống đến khoảng cuối năm 2014 vợ chồng bộc lộ sự không hòa hợp về tính cách, đặc biệt là bất đồng trong cuộc sống, trong sinh hoạt gia đình, trong công việc, trong làm ăn kinh tế mỗi người một chí hướng, không tìm được tiếng nói chung, không có sự tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, từ đó thường xuyên xảy ra to tiếng cãi vã, xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn đã trầm trọng nên vợ chồng đã tự sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2015 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị H ra ngoài làm ăn tự do nhưng vẫn đi về nhà anh chăm sóc, thăm nuôi con chung, tuy nhiên kể từ đầu năm 2020 cho đến nay chị H không còn đi về nhà anh và giấu địa chỉ không cho anh biết nơi ở mặc dù nhiều lần anh liên hệ hỏi nhưng đều từ chối cung cấp nơi ở.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức... nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Đặng Tuấn A, sinh ngày 31/8/2012 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/6/2014 hiện đang ở cùng anh; ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung vợ chồng: Không có nên anh không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về công nợ chung vợ chồng: Không có nên anh không yêu cầu Tòa giải quyết

Phía bị đơn chị Đặng Thị H:

Chị H đã vắng mặt toàn bộ quá trình Tòa án tiến hành tố tụng giải quyết vụ án nên không rõ quan điểm của chị H.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã T, huyện P...qua xác minh, làm việc, xác định sau khi ly thân với anh T từ năm 2015, chị H ra ngoài làm ăn và vẫn đi về nhà anh T chăm sóc, thăm nuôi con chung. Tuy nhiên kể từ đầu năm 2020 chị H không còn đi về nhà anh T và không khai báo tạm vắng cũng như không khai báo địa chỉ chỗ ở mới nên chị H đi đâu, làm gì UBND xã không nắm được. Tại thời điểm giải quyết vụ án, chị H vẫn có địa chỉ hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn C, xã T, huyện P, Thành phố Hà Nội.

Quan điểm của UBND xã T là đề nghị Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn với chị H để giải phóng cho cả hai bên.

Đại diện VKSND tham gia phiên toà xác định:

Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định về thu thập chứng cứ, chấp hành đúng pháp luật tố tụng; Đương sự vắng mặt đã được Tòa án tạo mọi điều kiện để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự; Đương sự có mặt đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà...

Do mâu thuẫn đã trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của anh T và áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình xử: Cho anh Nguyễn Huy T được ly hôn chị Đặng Thị H; về con chung giao anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung là Nguyễn Đặng Tuấn A, sinh ngày 31/8/2012 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/6/2014 và tạm miễn cấp dưỡng nuôi con cho chị H; về tài sản chung, công nợ chung không xem xét trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở lời trình bày của các bên đương sự và quan điểm của Đại diện VKSND, HĐXX nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ kiện Hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Mặc dù vào thời điểm Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án, bị đơn chị Đặng Thị H không có mặt tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú là thôn C, xã T, huyện P. Song quá trình Tòa án thu thập chứng cứ thông qua xác minh tại UBND xã T và trình bày của nguyên đơn anh Nguyễn Huy T cho thấy kể từ thời điểm vợ chồng anh T, chị H ly thân tháng 6/2015, chị H ra ngoài làm ăn nhưng vẫn đi về nhà anh T chăm sóc, thăm nom con chung; cho đến đầu năm 2020 đến nay chị H không còn đi về nhà anh T nhưng không khai báo tạm vắng cũng như khai báo nơi ở mới với địa phương, đồng thời giấu anh T về địa chỉ chỗ ở nên đây được coi thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Vì vậy TAND huyện P thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 và điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Huy T và chị Đặng Thị H là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, Thành phố Hà Nội (Đăng ký kết hôn số 20 ngày 09/9/2011). Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn nhiều năm kể từ cuối năm 2014 do bất đồng quan điểm trong cuộc sống cộng với tính cách không hòa hợp mỗi bên, không tôn trọng, tin tưởng nhau trong cuộc sống, từ đó nảy sinh những xung đột mà đỉnh điểm mâu thuẫn vợ chồng từ tháng 6/2015 khiến cả hai tự sống ly thân, chấm dứt mối quan hệ tình cảm vợ chồng cho đến nay. Về phía chị H không những không có biện pháp hàn gán mà ngược lại bỏ đi khỏi địa phương, cố tình giấu địa chỉ, bỏ mặc cho mâu thuẫn gia tăng là thể hiện thái độ không mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H đã đến mức trầm trọng bởi tình cảm vợ chồng thực sự không còn do thời gian mâu thuẫn, sống ly thân đã lâu, đời sống vợ chồng không có cơ hội hàn gắn bởi từ hai phía đều không ai mong muốn đoàn tụ, mục đích hôn nhân là hạnh phúc gia đình vì thế không đạt được, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, không còn ý nghĩa….Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của anh T về ly hôn chị H là có căn cứ, nên áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho anh T được ly hôn chị H.

Về con chung: Anh T, chị H có hai con chung là Nguyễn Đặng Tuấn A, sinh ngày 31/8/2012 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/6/2014 hiện anh T đang nuôi dưỡng; do kể từ khi vợ chồng ly thân con chung do anh T trực tiếp nuôi dưỡng và các con chung đều có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng anh T, mặt khác phía chị H đã vắng mặt trong quá trình Tòa án tiến hành tố tụng giải quyết vụ án nên không có quan điểm về con chung; vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo quyền lợi tốt nhất và tính ổn định trong sự phát triển của con chung, cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của anh T về nuôi dưỡng cả 02 con chung là hợp lẽ và ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án do chị H không đến Tòa làm việc nên chưa có đầy đủ căn cứ xác định được tài sản chung, công nợ chung của anh T, chị H; để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt nên phần tài sản, công nợ chung cần tách ra chưa xét trong vụ án này và sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu có tranh chấp phát sinh.

Về án phí: Nguyên đơn anh T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh T và bị đơn chị H có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm e Khoản 1 Điều 192, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Huy T được ly hôn chị Đặng Thị H.

2. Về con chung: Giao con chung của anh Nguyễn Huy T và chị Đặng Thị H là Nguyễn Đặng Tuấn A, sinh ngày 31/8/2012 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 03/6/2014 cho anh Nguyễn Huy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

Tạm miễn cho chị Đặng Thị H việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.

Chị Đặng Thị H có quyền thăm nom chon chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Huy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0047611 ngày 12/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P. Anh Nguyễn Huy T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ