vanban.org

Bản án 218/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/07/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/07/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Đình N, sửa bản án sơ thẩm số 18/2019/HS-ST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về hình phạt;

Xử phạt bị cáo Hoàng Đình N 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Đình N, sửa bản án sơ thẩm số 18/2019/HS-ST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về hình phạt;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2019/HS-PT
Ngày: 24-7-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương

Các thẩm phán: Bà Phạm Thị Xuân Đào

Bà Đỗ Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Linda – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 136/2019/TLPT-HS ngày 08 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Hoàng Đình N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 18/2019/HS-ST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Đình N, sinh năm 1972 tại Nghệ An. Nơi cư trú: Ấp T, xã T1, huyện T2, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân cơ khí; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Đình M (Chết) và bà Nguyễn Thị M1 (Chết); có vợ tên Trịnh Thị L (sinh năm 1971) và 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại – Có mặt;

Ngoài ra trong vụ án còn có người bị hại nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn trong việc nợ tiền nên vào khoảng 04 giờ ngày 15/11/2017, Hoàng Đình N biết chị Nguyễn Thị Thu T3 (sinh năm 1979) ngụ cùng ấp dậy sớm đi bán hàng qua cổng nhà nên N đã ra chặn xe của chị T3 đòi trả tiền. Do chị T3 chưa có tiền trả nên giữa N và chị T3 xảy ra lời qua tiếng lại, Hoàng Đình N dùng một cây côn nhị khúc bằng sắt đánh một cái vào mặt của chị T3 gây thương tích.

* Tang vật thu giữ: 01 cây côn nhị khúc bằng sắt màu trắng, dài 70cm.

* Tại bản kết luận giám định pháp y số 0986/GĐPY/2017 ngày 06/12/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận thương tích của chị Nguyễn Thị Thu T3: vết thương tháp mũi phải để lại sẹo kích thước 1,2 x 0,3cm, khuyết một phần tháp mũi, sẹo xơ dính, đổi màu, xấu về thẩm mỹ; tổn thương gãy xương chính mũi, không ảnh hưởng chức năng thở và ngửi. Tỷ lệ tổn thương cơ thể toàn bộ là 14%, vật gây thương tích là vật tày.

Tại văn bản số 92/TTPY/2018 ngày 23/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận: Cơ chế hình thành vết thương mũi phải kích thước 02cm, kèm sưng nề và gãy xương chính mũi do vật tày cứng có bề mặt nham nhở hoặc góc cạnh tù tác động lực mạnh gây nên.

Tay người khi gây thương tích được xem là vật tày mềm nên không thể gây thương tích như trên của nạn nhân Nguyễn Thị Thu T3.

Tại bản án sơ thẩm số 18/2019/HS-ST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Hoàng Đình N 02 (Hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 11/4/2019, bị cáo có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Ngày 12/7/2019, bị cáo có đơn kháng cáo bổ sung khai nhận tội và ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Đình N đã khai nhận tội và khẳng định vết thương của bị hại với tỷ lệ thương tật 14% là do bị cáo dùng côn đánh gây ra, bị cáo đã ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm án.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thừa nhận dùng côn đánh mà chỉ thừa nhận dùng tay đánh, Tòa án cấp sơ thẩm có đủ cơ sở áp dụng khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo mức án 02 năm tù là đúng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp và được hưởng tình tiết mới là thành khẩn khai báo, cha có công với Cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng sơ thẩm và phúc thẩm đều thực hiện đầy đủ, trình tự thủ tục theo quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung vụ án: Ngày 15/11/2017, do có mâu thuẫn trong việc nợ tiền nên Hoàng Đình N đã chặn xe của chị Nguyễn Thị Thu T3 đòi trả tiền, sau đó bị cáo N đã có hành vi dùng một cây côn nhị khúc bằng sắt đánh một cái vào mặt của chị T3 gây thương tích với tỷ lệ 14%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Xét kháng cáo của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm sức khỏe của người khác chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và bị hại đã có đơn bãi nại cho bị cáo và xử bị cáo mức án 02 (Hai) năm tù là phù hợp. Xét tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Đình N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khẳng định bản án sơ thẩm xử bị cáo là đúng. Tại đơn kháng cáo bổ sung ngày 12/7/2019, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo có cha là người có công với Cách mạng, được Chủ tịch nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng là: Bồi thường cho bị hại, được bị hại bãi nại, nhân thân tốt. Tại phiên tòa cấp phúc thẩm, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ mới là thành khẩn khai báo, gia đình có công với Cách mạng, đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giảm án theo quy định pháp luật, xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử do có tình tiết giảm nhẹ mới.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Đình N, sửa bản án sơ thẩm số 18/2019/HS-ST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về hình phạt;

2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Hoàng Đình N 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Về án phí:

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ