- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn V được ly hôn với chị Trần Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 218/2019/HNGĐ - ST Ngày: 15-10-2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Bá Kiên và ông Lê Khắc Thiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 184/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2019/QĐXX-ST ngày 30 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Xóm 7, xã Nghi Th, huyện Nghi L, tỉnh Nghệ An
Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Xóm 7, xã Nghi Th, huyện Nghi L, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Nguyễn Văn V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn V và chị Trần Thị H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghi Th, huyện Nghi L, tỉnh Nghệ An vào ngày 09 tháng 6 năm 2010 trên tinh thần tự nguyện, sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được thời gian khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về cách sống, chị H có tình cảm ngoài với người khác từ đó tình cảm vợ chồng rạn nứt, sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau từ cuối năm 2014 cho đến nay. Nay giữa anh V và chị H không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy anh V yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh V được ly hôn với chị Trần Thị H.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 con chung, cháu đầu tên Nguyễn Anh T (nữ ), sinh ngày 12/4/2011 và cháu Nguyễn Trần Nhã L (nữ), sinh ngày 04/5/2015. Hiện nay hai con chung đang do chị H nuôi dưỡng, nguyện vọng của anh V cũng muốn nuôi một cháu nhưng chị H cương quyết nuôi cả hai cháu nên anh V nhường quyền nuôi con (cả hai cháu) cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, anh V xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn - chị Trần Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 10/10/2019, thể hiện:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H thừa nhận quá trình kết hôn, chung sống và mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân đúng như nguyên đơn trình bày. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Mặc dù vợ chồng không còn tình cảm, không còn quan tâm, tin tưởng nhau, mục đích hôn nhận không đạt nhưng do giáo hội, chị H không được phép ly hôn, vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Về con chung: trong thời kỳ hôn nhân chị H và anh V có 02 người con chung , cháu đầu tên Nguyễn Anh T (nữ ), sinh ngày 12/4/2011 và cháu Nguyễn Trần Nhã L (nữ), sinh ngày 04/5/2015. Hiên nay hai người con đang còn nhỏ, từ khi chị H và anh V sống ly thân cho đến nay chỉ một mình chị H nuôi hai con, anh V không hề quan tâm gì. Nếu ly hôn nguyện vọng của chị H là được trực tiếp nuôi cả hai con, chưa yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc phát biểu ý kiến:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:Thẩm phán đã xác định tư cách pháp lý của các đương sự; thu thập chứng cứ; cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự; thực hiện thời hạn chuẩn bị xét xử theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Thư ký tòa án thực hiện đúng các quy định về phổ biến nội quy phiên tòa, kiểm tra báo cáo danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa, ghi biên bản phiên tòa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa, thực hiện nội dung, phương thức, thứ tự tranh tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
+ Về quan hệ hôn nhân:Anh Nguyễn Văn V được ly hôn với chị Trần Thị H
+ Về con chung: Giao con chung Nguyễn Anh T (nữ ), sinh ngày 12/4/2011 và Nguyễn Trần Nhã L (nữ), sinh ngày 04/5/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh V vì chị H chưa có yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
.Về tố tụng:
[1.1]. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Nguyên đơn, bị đơn cư trú tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nhưng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
. Về nội dung vụ án:
. Anh Nguyễn Văn V và chị Trần Thị H lấy nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 09/6/2010 tại Ủy ban nhân dân xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy quan hệ hôn nhân đó là hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
. Xét yêu cầu của đương sự:
- Đối với yêu cầu về ly hôn: Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng sống không yêu thương, quan tâm lẫn nhau. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau. Từ cuối năm 2014 đến nay, vợ chồng sống ly thân.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc kết hôn là để vợ chồng cùng chung sống xây dựng gia đình hạnh phúc cùng nhau nuôi dạy con cái khôn lớn, yêu thương, chia sẻ với nhau khó khăn trong cuộc sống. Đó cũng là nghĩa vụ, bổn phận của người làm vợ, làm chồng. Anh V và chị H đã không còn yêu thương, quân tâm đến nhau và vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2014 đến nay, qua xác minh tình trạng hôn nhân tại ban cán sự của xóm 7, xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, nơi nguyên đơn và bị đơn cư trú cũng đã xác định anh V và chị H sống ly thân từ khi chị H sinh con thứ hai cho đến nay. Như vậy, có thể khẳng định, tình trạng hôn nhân giữa anh V và chị H đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh V được ly hôn chị H là phù hợp với pháp luật.
- Về con chung: Vợ chồng thống nhất trình bày trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 02 người con là Nguyễn Anh T (nữ ), sinh ngày 12/4/2011 và Nguyễn Trần Nhã L (nữ), sinh ngày 04/5/2015. Hiên nay hai người con đang còn nhỏ và đang sống với chị H, nguyện vọng của anh V cũng muốn nuôi một cháu nhưng chị H cương quyết nuôi cả hai cháu nên anh V nhường quyền nuôi con (cả hai cháu) cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, nên cần giao hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp. Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Trần Thị H chưa yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh V.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 điều 35, điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn V được ly hôn với chị Trần Thị H.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Anh T (nữ ), sinh ngày 12/4/2011 và Nguyễn Trần Nhã L (nữ), sinh ngày 04/5/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi về quyền nuôi con. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh V vì chị H chưa có yêu cầu.
Anh Nguyễn Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Nếu anh V lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung. Chị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2018/ 0005643 ngày 08-8-2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc. Anh Nguyễn Văn V đã nộp đủ án phí.
5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Nghi Lộc; - Thi hành án DS H.Nghi Lộc; - UBND xã Nghi Thuận (nơi ĐKKH); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Đức Thúy |