vanban.org

Bản án 218/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bà Huỳnh Thị Ngọc D và ông Trương Chí L được ly hôn.

Về con chung: Giao cho bà D được quyền nuôi dưỡng cháu Trương Chí B sinh ngày 20/11/2015 hiện đang sống với bà D. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Không ai được cản trở việc thăm con của ông L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà D xin ly hôn ông L"
  • Tòa quyết gì? Bà Huỳnh Thị Ngọc D và ông Trương Chí L được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 218 / 2018 / HNGĐ - ST
Ngày: 05 / 7 / 2018
“V/v tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang B.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Thanh ;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử công khai vụ án thụ lý số: 58/2018/TLST – HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2018 về việc “ Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc D, sinh năm 1996

Địa chỉ: Số 17, lô 5, tổ 31, ấp Vĩnh Bình, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang. ( Có đơn xin xét xử vắng mặt )

2. Bị đơn:

Ông Trƣơng Chí L, sinh năm 1994

Địa chỉ: Ấp Phước Thạnh, xã Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng bà D trình bày: Năm 2015, bà và ông L tự tìm hiểu và chính thức chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Sau nhiều năm chung sống, bà nhận thấy giữa hai người có nhiều khác biệt về cách sống, thường phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết, ông L thường xuyên bỏ nhà đi chơi đêm, chuyển đi nơi khác sinh sống không quan tâm, chăm sóc vợ con. Bà và ông L cũng đã thống nhất với nhau về việc ly hôn nhưng còn tranh chấp về quyền nuôi con. Nay xin ly hôn.

Con chung: Có 01 con chung tên Trương Chí B sinh ngày 20/11/2015 đang sống với bà. Ly hôn bà D có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu B và bà không cần ông L phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bà D cung cấp thông tin về nơi cư trú của ông L là ấp Phước Thạnh, xã Phước Hưng, huyện An Phú chứ không phải là ấp Vĩnh Thành, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú như trong đơn khởi kiện đã trình bày.

Bị đơn là ông Trương Chí L không có văn bản hoặc ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà D.

Tại phiên tòa, bà D có đơn xin vắng mặt, trình bày trong đơn là vẫn B lưu các ý kiến đã trình bày trong quá trình hòa giải cũng như trong đơn khởi kiện, ông L vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký đã tuân theo pháp luật, không có vi phạm; tại phiên tòa Hội đồng xét xử ( ghi tắt là HĐXX ) không thuộc trường hợp phải thay đổi, Thẩm phán đã công bố các lời khai của đương sự vắng mặt; bà D có đơn xin xét xử vắng mặt riêng ông L vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã triệu tập hợp lệ và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà D nên xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà.

Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa bà D, ông L có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, do mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng nên bà D có đơn xin ly hôn và căn cứ vào các chứng cứ do Tòa án thu thập được về tình trạng hôn nhân của ông bà thì mâu thuẫn là trầm trọng, do vậy đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà D. Về con chung tính đến thời điểm xét xử chưa đủ 36 tháng tuổi nên đề nghị HĐXX giao cho bà D nuôi dưỡng, về nghĩa vụ cấp dưỡng và phân chia tài sản chung, nợ chung do bà D không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà D có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện An Phú giải quyết về việc hôn nhân, nuôi con chung với ông L, các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.

Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bà D có đơn xin xét xử vắng mặt, ông L vắng mặt không có lý do mặc dù đã triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Năm 2015, bà D và ông L tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện trong thời gian chung sống giữa bà D ông L thường xảy ra mâu thuẫn, ông L bỏ bê không chăm sóc vợ con và hiện cả hai đã không còn chung sống với nhau kể từ tháng 6/2017 AL. Ông L không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà D, không tham gia các phiên hòa giải nên xem như ông đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng của ông, bà là trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên cần cho ông, bà ly hôn.

Về nuôi dưỡng con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng:

Bà D khai ông bà có con chung là Trương Chí B sinh ngày 20/11/2015 hiện đang sống với bà. Ly hôn bà D có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu B, xét thấy tính đến thời điểm xét xử cháu B chưa đủ 36 tháng tuổi, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu B cho bà D nuôi dưỡng. Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, bà D và người thân không được cản trở việc thăm con chung. Vì sự phát triển của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cơ quan, tổ chức khác Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do bà D không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Trường hợp sau này ông, bà có yêu cầu chia tài sản chung thì có quyền khởi kiện trong một vụ án khác.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Bà Huỳnh Thị Ngọc D và ông Trương Chí L được ly hôn.

Về con chung: Giao cho bà D được quyền nuôi dưỡng cháu Trương Chí B sinh ngày 20/11/2015 hiện đang sống với bà D. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Không ai được cản trở việc thăm con của ông L.

Vì sự phát triển của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cơ quan, tổ chức khác Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Án phí: Bà D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, tuy nhiên được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002828 ngày 06/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án được quyền kháng cáo trong thời hạn trên kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ