- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L tội cố ý gây thương tích - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 217/2026/HS-PT Ngày: 03/4/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Bích Sơn.
Các Thẩm phán:
Bà Mai Trần Cảnh;
Ông Phạm Công Toại.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Đăng Khương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24/3/2026 và ngày 03/4/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số 03/2026/TLPT-HS ngày 05/01/2026 đối với bị cáo Nguyễn Văn L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1981 tại tỉnh tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long); giới tính: Nam; HKTT: Số A, ấp A, xã G, tỉnh Vĩnh Long; nơi ở hiện nay: Số A L, Khu phố C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1956 và bà Võ Thị T, sinh năm 1958; vợ: Không có; có 01 người con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Từ nhỏ đến 2005, sinh sống và phụ giúp gia đình tại Số A, ấp A, xã G, tỉnh Vĩnh Long; từ 2005 đến nay, làm nghề buôn bán chỉ may bao bì tại Số A L, Khu phố C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Phạm Thiện H, sinh năm 1976
Địa chỉ: A, Ấp D, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 40 phút ngày 25/01/2025, ông Phạm Thiện H ngồi uống cà phê cùng với các ông Nguyễn Thanh B1, ông Trần Văn Á, ông Dương Văn D và ông Lâm Hứa X tại quán C ấp I, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh thì Nguyễn Văn L (bạn ông H) đến ngồi chung và nói chuyện. Sau đó, giữa L và ông H nảy sinh mâu thuẫn trong việc kinh doanh, L nói với ông H: “Qua năm không được bán chỉ rẻ nữa, ông bán rẻ nữa là tôi đập ông văng vách”, H liền trả lời: “Mày giàu có bao nhiêu mà đòi đập tao văng vách?”
Khi ông H vừa nói xong thì bất ngờ bị L cầm ly thủy tinh trên tay phải đánh vào đầu của H gây thương tích; L tiếp tục cầm gạt tàn thuốc bằng gốm trên tay phải đánh vào vùng mặt gò má trái của ông H gây thương tích, dùng tay phải đánh vào mặt ông H nhưng không trúng. Lúc này mọi người xung quanh can ngăn và đưa ông H đi cấp cứu, còn L bỏ đi về.
Ngày 26/01/2025, ông Phạm Thiện H đến Công an xã V (nay là xã T) trình báo vụ việc và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với L. Vụ việc được Công an xã lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Kết luận giám định thương tích số 34/2025/KLTTCT – PY ngày 13/3/2025 của Trung tâm pháp y Thành phố H đối với Phạm Thiện H:
“ 1. Kết quả chính:
Đa chấn thương phần mềm đã được điều trị hiện còn:
+ Không còn sưng vùng đầu. Nghĩ nhiều do vật tày tác động gây ra.
+ Còn 1 sẹo vùng gò má trái kích thước 1,8x0,2cm, có tỷ lệ 03%. Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắc, vật tày, vật tày có cạnh tác động gây ra.
2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Thiện H là 03% (ba phần trăm).
3. Kết luận khác: Tất cả các chấn thương trên:
+ Dùng ly thủy tinh và gạt tàn thuốc lá như hình ảnh Cơ quan cảnh sát điều tra cung cấp có thể gây ra được.
+ Không nguy hiểm đến tính mạng”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo L phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác.
Vật chứng vụ án: 01 USB màu đen ghi lại diễn biến vụ việc (lưu cùng hồ sơ vụ án); các mảnh vỡ bằng gốm màu trắng; 01 ly thủy tinh bị vỡ; 01 áo thun ngắn tay màu đen, 01 quần jean ngắn màu xanh: trang phục Linh mặc khi phạm tội; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu tím, số Imei 1: 359236727485794, số Imei 2: 359236729391164, cùng 01 sim số 0986502300 của Nguyễn Văn L, không liên quan đến vụ án cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT- VKS- HS ngày 20 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên xử:
Căn cứ điểm a, i Khoản 1 Điều 134, Điều 38, Điều 50; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt vào chấp hành án.
Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Thiện H số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng)…
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 10/12/2025, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm đề nghị được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn L trình bày: Giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Bị cáo ăn năn hối cải, hối hận về việc đã gây thương tích cho anh H và nong muốn có cơ hội được sửa chữa lỗi lầm, để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi cha mẹ già và con nhỏ. Mong Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc cha mẹ già và con nhỏ.
Bị hại ông Phạm Thiện H trình bày: Bị cáo Nguyễn Văn L chưa thực sự ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Bị cáo Nguyễn Văn L đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm xâm phạm đến sức khoẻ của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ, thuộc trường hợp không cho hưởng án treo theo hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao. Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 năm 09 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và các ý kiến tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy: Kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt, bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa, căn cứ Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bào chữa.
Xét nội dung kháng cáo:
Do phát sinh mâu thuẫn trong việc kinh doanh với ông Phạm Thiện H nên bị cáo L đã dùng ly thủy tinh và gạt tàn thuốc đánh vào vùng đầu, mặt của ông H gây thương tích với tỷ lệ tổn 3%. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ, thuộc trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Sau khi vụ việc xảy ra, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã được cấp sơ thẩm áp dụng và xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 năm 09 tháng tù là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền 50.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại và nộp Đơn xác nhận là lao động chính, phải chăm sóc cha mẹ già và con còn đi học. Xét thấy, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết mới tại phiên toà phúc thẩm. Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ để giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho bị cáo, để bị cáo sớm có cơ hội trở về, sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Nhận định trên cũng là quan điểm của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt tù cho bị cáo Nguyễn Văn L.
Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136; điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn L đã bồi thường cho bị hại Phạm Thiện H số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện kiểm sát TP. Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 10, TP. HCM; - TAND Khu vực 10, TP. HCM - Cơ quan CSĐT- Công an TP. HCM; - Phòng PV 06 – CATP Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự TPHCM; - Bị cáo và các đương sự; - Lưu: VP, HS (Xuân/18). 1AAKALQ*idjbcj+ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN Phạm Công Toại | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Bích Sơn THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Trần Cảnh Hoàng Bích Sơn |