vanban.org

Bản án 217/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Trường Vũ

Về hôn nhân: Cho ông Lê Trường V được ly hôn bà Võ Thị Lan D. Về con chung: Giao con chung Lê Hoàng Thiên L, sinh ngày 15/07/2022, Lê Ngọc Thiên K, sinh ngày 05/5/2020 cho bà Võ Thị L2 Di tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Lê Trường V không phải cấp dưỡng cho con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Trường Vũ
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 217/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10 – 4 - 2024
V/v ly hôn Vũ – Di

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Phùng.

Ông Nguyễn Văn Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 510/2023/TLST - HNGĐ ngày 29/11/2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Trường V, sinh năm 1997.

Bị đơn: Bà Võ Thị Lan D, sinh năm 2000.

Cùng trú tại: tổ E, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

(Ông V có mặt, bà D vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/11/2023 nguyên đơn ông Lê Trường V trình bày:

Ông V và bà D sau thời gian tìm hiểu, được sự đồng ý của hai bên gia đình, tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống năm 2019 nhưng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P năm 2020. Sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không còn phù hợp, bà Lan D và gia đình chồng không tìm được tiếng nói chung, mẹ chồng và nàng dâu thường xuyên cải nhau, ông V có khuyên can vợ nên nghe lời cha mẹ chồng nhưng bà D không thích, tỏ thái độ hờn dỗi bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống, trước khi bà D bỏ nhà đi thì có nói với mẹ chồng “ mai mốt bà có cưới vợ cho ông V, cưới được ai thì cưới đi” Sau khi vợ bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống thì hai bên gia đình có gặp mặt nói chuyện hoà giải vợ chồng nhưng không thành, vợ chồng ly thân với nhau hơn 03 tháng nay, nay tình cảm không ông V yêu cầu được ly hôn với bà Lan D.

- Về con chung: 02 con chung tên Lê Hoàng Thiên L, sinh ngày 15/07/2022, Lê Ngọc Thiên K, sinh ngày 05/5/2020, hai con chung hiện đang sống chung với bà D, khi ly hôn ông V đồng ý giao con chung cho bà Lan D tiếp tục nuôi con, không cấp dưỡng.

Tài sản chung: Tự thoả thuận; nợ chung: Không.

Bị đơn bà Võ Thị Lan D vắng mặt từ khi Toà án thụ lý nên không có lời trình bày.

Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân được đại diện ấp H, xã P cung cấp thông tin: bà Võ Thị Lan D, sinh năm 2000 có hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Ông V, bà D là vợ chồng, tuy nhiên hiện tại không còn thấy bà Lan D sống chung ông V nguyên nhân cụ thể như thế nào thì địa phương không rõ.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Bà Lan D không có mặt theo các thông báo là thực hiện không đúng Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu cho ông V được ly hôn với bà Lan D. Giao con chung Lê Hoàng Thiên L, sinh ngày 15/07/2022, Lê Ngọc Thiên K, sinh ngày 05/5/2020 cho bà L1 Di tiếp tục nuôi dưỡng, bà D vắng mặt, không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: ông V yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với bà Lan D nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1 Về hôn nhân: bà Lan D và ông V tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống năm 2019 và có đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã P là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Ông V cho rằng bà Lan D và gia đình chồng không phù hợp lối sống, mẹ chồng nàng dâu không tìm được tiếng nói chung vì thế vợ chồng hay cải nhau, bà D bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống, hai bên gia đình cũng tìm cách hoà giải nhưng không thành, vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân ông V, bà Lan D không điện thoại, tới lui hỏi thăm nhau cũng không có thái độ hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, ông V xin ly hôn bà Lan D.

Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau….”. Thế nhưng vợ chồng ông V, bà Lan D không còn chung sống khoảng hơn 04 tháng nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho ông V được ly hôn bà Lan D.

[2.2] Về con chung: có 02 con chung tên Lê Hoàng Thiên L, sinh ngày 15/07/2022, Lê Ngọc Thiên K, sinh ngày 05/5/2020, các con chung đang sống chung bà Lan D, khi ly hôn ông V đồng ý giao con chung cho bà Lan D tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng. Xét từ khi ly thân đến nay con chung đang sống với bà D, có cuộc sống ổn định, nên tiếp tục giao hai con chung cho bà D nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Lan D vắng mặt, không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét giải quyết.

[2.3] ông V trình bày tài sản chung tự thoả thuận, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[2.4] Về án phí: Ông Vũ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Trường Vũ

Về hôn nhân: Cho ông Lê Trường V được ly hôn bà Võ Thị Lan D.

Về con chung: Giao con chung Lê Hoàng Thiên L, sinh ngày 15/07/2022, Lê Ngọc Thiên K, sinh ngày 05/5/2020 cho bà Võ Thị L2 Di tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Lê Trường V không phải cấp dưỡng cho con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.

Về án phí: ông Lê Trường V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006397 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Ông V không phải nộp thêm án phí.

Bà Võ Thị Lan D không phải chịu án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. bà Lan D vắng mặt thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ