vanban.org

Bản án 217/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 18/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng N, Đoàn Văn Đ, Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Nguyễn Trọng N 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/07/2023. Xử phạt: Đoàn Văn Đ 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/07/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng N - Đoàn Văn Đ - Lê Văn L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng N, Đoàn Văn Đ, Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 217/2023/HSST
Ngày 18 tháng 10 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đào Phương Mai

Ông Phạm Hồng Quyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đức Minh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tùng Lâm - Kiểm sát viên

Trong ngày 18 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 212/2023/ TLST - HS ngày 25 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2023/QĐXXST – HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Trọng N, sinh năm 2003; Tên gọi khác: Không; HKTT: thôn Đ, xã N, huyện C, tỉnh T; Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Hoàng Văn H (đã chết) và bà: Nguyễn Thị H (đã chết);

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/07/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đoàn Văn Đ; sinh năm 1999; Tên gọi khác: Không; HKTT: Thôn K, xã T, huyện Đ, tỉnh H; Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đoàn Văn T và bà: Võ Thị H

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/07/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Lê Văn L; sinh năm 2002; Tên gọi khác: Không; HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện T, H; Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Lê Văn N và bà: Nguyễn Thị N.

Nhân thân:

- Ngày 20/8/2018, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng thời hạn 06 tháng, chấp hành xong ngày 05/3/2019 – Ngoài thời hiệu.

- Ngày 03/02/2020, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh H xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án (AS: 01/2020/HS-ST). Ra trại ngày 29/10/2020. Đã nộp án phí theo biên lai số 0002496 ngày 26/3/2020. – Án tích đã được xóa.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/07/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Đinh Huy H, sinh năm 1989 ;

HKTT: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh N; (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm: 1982;

Nơi ở: 521 đường H, phường P, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

2. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984;

Nơi ở: 713 đường H, phường C, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

3. Chị Vũ Thị L, sinh năm 1992;

Nơi ở: 12/53 đường N, phường P, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt lại như sau:

Ngày 11/07/2023, anh Đinh Huy H (sinh năm: 1989; HKTT: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh N) là nhân viên Công ty cổ phần xây lắp điện và dịch vụ A (Công ty A) phát hiện tại các điểm thi công lắp điện cho Công ty điện lực Hoàn Kiếm bị trộm cắp dây cáp điện nên đã đến Công an phường Tràng Tiền trình báo sự việc.

Rạng sáng ngày 12/7/2023, anh H làm việc thi công lắp điện ở một số địa điểm trên địa bàn quận Hoàn Kiếm. Khi đi qua 31 phố B, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, anh H phát hiện 02 đối tượng đang có hành vi cắt trộm dây cáp điện nên đã liên hệ anh Trần Hữu T (Sinh năm: 1983; HKTT: thôn B, xã H, huyện H, tỉnh H) là đồng nghiệp anh H đến hỗ trợ, bắt giữ đối tượng. Khi đó, hai đối tượng trộm cắp cũng phát hiện anh H nên đã bỏ đi không tiếp tục trộm cắp nữa. Anh H bí mật bám theo hai đối tượng, khi đi đến khu vực ngã tư phố B – phố T thì bắt giữ được một trong hai đối tượng trộm cắp còn một đối tượng bỏ đi đâu không rõ. Anh H và anh T đã đưa đối tượng đến Công an phường Tràng Tiền giải quyết sự việc.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định được nhóm gồm 05 đối tượng trộm cắp dây cáp điện trên địa bàn quận Hoàn Kiếm là Nguyễn Trọng N, Đoàn Văn Đ, Lê Văn L, Đỗ Thành T (Sinh ngày: 24/12/2008; HKTT: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh T), Vũ Hồ Anh K (Sinh năm: 12/10/2009; HKTT: Xóm N, huyện N, tỉnh N), M (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Do thiếu tiền chi tiêu cá nhân, Nguyễn Trọng N nảy sinh ý định trộm cắp dây cáp điện tại các bốt điện, công tơ điện trên bàn quận Hoàn Kiếm, sau đó lột vỏ dây điện lấy lõi dây đồng bán lấy tiền chi tiêu. N đã kể về hành vi phạm tội của mình cho các đối tượng khác nghe và rủ các đối tượng cùng đi trộm cắp cùng mình. Cụ thể, các đối tượng đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản như sau:

Vụ thứ N: Khoảng 00h ngày 09/7/2023, N và T đi lang thang khu vực phố Hai Bà Trưng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội nhìn thấy 01 đoạn dây cáp điện hãng T mới chưa qua sử dụng, dài 10 mét, loại cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC-2x16mm2 tại vị trí trước cạnh tủ điện cửa số 8 Hai Bà Trưng, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Thấy vậy, N và T đã rút đoạn dây cáp điện dài khoảng 10m này sau đó cuộn lại và bỏ đi. N gặp một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) thu mua đồng nát đi trên đường và bán cuộn dây cáp điện trộm cắp được cho người phụ nữ này với giá 200.000 đồng. Số tiền bán được N và T đã ăn tiêu cá nhân hết. Tài sản không thu hồi được.

Vụ thứ 2: Khoảng 03 giờ 20 phút ngày 10/7/2023, N rủ M đi trộm cắp dây cáp điện để bán lấy tiền tiêu xài. M sử dụng xe máy nhãn hiệu Y (không rõ BKS) của M chở N đi lang thang tìm địa điểm trộm cắp. Khi đi qua khu vực trước cửa số 31 phố B, N thấy cạnh tủ điện có dây cáp điện chờ, không người trông giữ. N xuống xe dùng cưa sắt đã chuẩn bị trước để cắt 01 đoạn dây cáp điện hãng Tự Cường còn mới chưa qua sử dụng, dài 2,2 mét, loại cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC-4x95mm2. Khi N cắt dây cáp thì M ngồi trên xe cảnh giới. Cắt xong, N cầm đoạn dây cáp điện trộm cắp được vác lên vai rồi lên xe M chở bỏ đi. Tiếp đó, N lột bỏ vỏ dây cáp điện trộm cắp được mang đến cửa hàng thu mua phế liệu tại ngõ 277 đường P, phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội để bán cho Chị Vũ Thị L (Sinh năm: 1992; Nơi cư trú: 12 ngõ 53 phố N, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) thu được 1.320.000 đồng, đã chi tiêu cá nhân hết số tiền này.

Khi mua dây đồng, Chị L không hỏi N về nguồn gốc. Chị L đã bán lại số dây đồng trên cho một người đàn ông không quen biết khi đến cửa hàng của chị tìm mua phế liệu. Tài sản không thu hồi được.

Vụ thứ 3: Khoảng 01h20’ ngày 11/7/2023, sau khi nghe N kể về việc trộm cắp dây điện tại các bốt điện để lấy dây đồng mang bán, Đ đã rủ L đi trộm cắp dây cáp điện. Cả hai chuẩn bị cưa sắt sau đó đi bộ lang thang quanh khu vực quanh Nhà hát lớn Hà Nội. Khi đi qua trước cửa số 8 đường P, phường T, Hoàn Kiếm, Hà Nội, cả hai nhìn thấy 01 đoạn dây cáp điện hãng T còn mới chưa qua sử dụng, dài 10 mét, loại Cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC-2x16mm2, 01 đoạn dây cáp điện hãng nhãn T còn mới chưa qua sử dụng, dài 10 mét, loại cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC-4x25mm2 không ai trông giữ, Đ và L dùng cưa sắt cắt cuộn dây điện rồi bỏ đi. Đ lột vỏ dây điện để lấy lõi dây đồng, mang đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị P (Sinh năm: 1982; HKTT: 521 đường H, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) bán được 1.280.000 được. Đ chia cho L 150.000 đồng, số tiền còn lại cả hai cùng nhau ăn tiêu hết.

Khi mua dây đồng, Chị P đã hỏi Đ về nguồn gốc. Đ nói làm việc ở công trường nên đã nhặt những đầu dây điện thừa, lọc dây đồng mang bán nên Chị P không biết số dây đồng trên là tài sản do phạm tội mà có. Chị P nhận dạng được Đoàn Văn Đ là người đã mang dây đồng đến bán cho Chị P vào khoảng 10 giờ ngày 11/7/2023. Chị P đã giao nộp số dây đồng mua của Đ cho Cơ quan điều tra.

Vụ thứ 4: Khoảng 02h30’ ngày 11/7/2023, N tiếp tục rủ Đ đi trộm cắp dây cáp điện. Cả hai mang cưa sắt, mượn xe máy Y của M để đi trộm cắp. Khi đi qua trước cửa số 8 Hai Bà Trưng, cả hai nhìn thấy 01 đoạn dây cáp điện hãng T, dài 4 mét, mới chưa qua sử dụng, loại cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC-4x95mm2 nhô lên khỏi mặt đất. Thấy vậy, N và Đ dùng cưa sắt cắt đoạn dây cáp điện trên. N lột vỏ dây cáp để lấy dây đồng bên trong đem bán cho chị Nguyễn Thị P tại địa chỉ 521 đường H, phường P, Hoàn Kiếm, Hà Nội được 1.700.000 đồng. N chia cho Đ 600.000 đồng. Số tiền còn lại N chi tiêu cá nhân hết.

Chị Nguyễn Thị P nhận dạng được Nguyễn Trọng N là người đã đến bán dây đồng cho mình vào khoảng 07h ngày 11/7/2023. Khi mua, Chị P không hỏi về nguồn gốc số dây đồng. Chị P đã giao nộp số dây đồng mua của N cho Cơ quan điều tra.

Vụ thứ 5: Khoảng 01h30’ ngày 12/7/2023, N lang thang khu vực bờ hồ Hoàn Kiếm gặp và rủ K đi cắt trộm dây điện bán lấy tiền. Cả hai đi bộ đến khu vực tủ điện tại trước cửa số 31 phố B, K giữ dây cho N cưa 01 đoạn dây cáp điện hãng Tự Cường còn mới chưa qua sử dụng, dài 2,2 mét, loại loại cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC-4x95mm2. Cắt gần xong, anh Đinh Huy H phát hiện N và K có hành vi trộm cắp tài sản đồng thời gọi điện cho anh T đến hỗ trợ. N và K nhìn thấy anh H liền bỏ chạy không dám trộm cắp nữa. Anh H và anh T đuổi, bắt giữ được K và bàn giao về Cơ quan Công an. N bỏ đi một lúc sau đó quay lại khu vực tủ điện tại trước số 31 Hàng Bài cắt tiếp đoạn dây điện trên rồi bỏ đi. N lọc lấy lõi dây đồng, mang đến cửa hàng của chị Vũ Thị N (Sinh năm: 1984, Nơi cư trú: 713 đường H, phường C, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) bán được 1.180.000 đồng. N đã chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.

Khi mua dây đồng của N, Chị N đã hỏi về nguồn gốc nhưng N nói bố N cho số dây đồng đó mang đi bán nên Chị N không biết số dây đồng trên là tài sản do phạm tội mà có. Chị N đã giao nộp số dây đồng mua của N cho Cơ quan điều tra.

Tang vật thu giữ:

- Thu giữ của chị Nguyễn Thị P: 03 lõi dây đồng dài 4 mét, đường kính khoảng 1cm;

- Thu giữ của chị Vũ Thị N: 04 lõi dây đồng dài 2,2 mét, đường kính 1cm, tổng trọng lượng 7,4kg.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 121/KL-HĐĐGTS ngày 20/7/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong TTHS quận Hoàn Kiếm kết luận:

- 01 đoạn dây cáp điện hãng T, mới chưa qua sử dụng, dài 10 mét, loại Cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC-2x16mm2 có giá trị vào ngày 09/7/2023 là: 811.000 đồng. - (Tang vật trong vụ thứ N);

- 01 đoạn dây cáp điện hãng T, mới chưa qua sử dụng, dài 2,2 mét, loại loại Cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC-4x95mm2 có giá trị vào ngày 10/7/2023 là: 2.010.800 đồng - (Tang vật trong vụ thứ hai);

- 01 đoạn dây cáp điện hãng T, mới chưa qua sử dụng, dài 10 mét, loại Cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC-2x16mm2 có giá trị vào ngày 11/7/2023 là: 811.000 đồng; 01 đoạn dây cáp điện hãng Tự Cường, mới chưa qua sử dụng, dài 10 mét, loại Cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC-4x25mm2 có giá trị vào ngày 11/7/2023 là: 2.430.000 đồng - (Tang vật trong vụ thứ ba);

- 01 đoạn dây cáp điện hãng T, dài 4 mét, mới chưa qua sử dụng, loại loại Cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC-4x95mm2 có giá trị vào ngày 11/7/2023 là: 3.656.000 đồng - (Tang vật trong vụ thứ tư);

- 01 đoạn dây cáp điện hãng T, mới chưa qua sử dụng, dài 2,2 mét, loại loại Cáp hạ áp 0,6/1(1,2)kV-Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC-4x95mm2 có giá trị vào ngày 12/7/2023 là: 2.010.800 đồng. - (Tang vật trong vụ thứ năm).

Tiến hành dẫn giải Nguyễn Trọng N, Đoàn Văn Đ, Lê Văn L, Vũ Hồ Anh K, Đỗ Thành T xác định vị trí thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có. Các bị can, đối tượng xác định được các vị trí đã trộm cắp và tiêu thụ tài sản như đã nêu trên. Đối với vụ thứ N, N bán dây cáp điện cho người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) trên đường (không rõ địa chỉ) nên không chỉ được vị trí tiêu thụ số dây điện trộm cắp được.

Cơ quan điều tra tiến hành rà soát camera thu được hình ảnh N cùng M trộm cắp dây điện tại khu vực vỉa hè trước số 31 Hàng Bài ngày 10/7/2023, hình ảnh N cùng K trộm cắp dây điện tại 31 Hàng Bài ngày 12/7/2023, hình ảnh Đ cùng L trộm cắp dây điện tại trước cửa số 8 Phan Chu Trinh.

Đối với Vũ Hồ Anh K (Sinh ngày: 12/10/2009, đến ngày thực hiện hành vi trộm cắp được 13 tuổi 8 tháng 29 ngày, chưa đủ 14 tuổi) chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với Đỗ Thành T (Sinh ngày 24/12/2008, đến ngày thực hiện hành vi phạm tội được 14 tuổi, 06 tháng, 15 ngày, thuộc đối tượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi). Đủ căn cứ xác định T đã đi trộm cắp 01 lần với tài sản trộm cắp trị giá 811.000 đồng. Công an quận Hoàn Kiếm đã áp dụng Điều 22 Luật xử lý vi phạm hành chính ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T bằng hình thức “Cảnh cáo”.

Đối với đối tượng “M” tham gia trộm cắp cùng Nguyễn Trọng N trong vụ thứ 2: Hiện tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nhân thân, lai lịch của đối tượng “M” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hoàn Kiếm đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Đối với các Chị Vũ Thị L, Nguyễn Thị P, Vũ Thị N: Khi mua số dây đồng của các bị can, các chị không biết số tài sản này do phạm tội mà có. Lời khai của Chị L, Phương và Nhung phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.

Đối với người phụ nữ thu mua đoạn dây cáp điện mà N và T trộm cắp được trong vụ thứ N: Do N, T khai không rõ nhân thân, tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.

Tang vật của vụ án gồm:

- Đối với chiếc cưa các bị can dùng để cắt dây cáp điện: Sau khi thực hiện xong hành vi trộm cắp tài sản, các bị can đã vứt đi, không xác định được nơi vứt nên không thu hồi được công cụ phạm tội.

- Đối với chiếc xe máy Yamaha Novo (không rõ BKS) của M: Hiện Cơ quan điều tra chưa xác định nhân thân, lai lịch đối tượng “M”, chưa xác định được đặc điểm, biển kiểm soát chiếc xe mà M sử dụng để đèo N đi trộm cắp tài sản tại trước số 31 Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ngày 10/7/2023 nên Cơ quan điều tra không có điều kiện để xác minh làm rõ, xử lý.

Về dân sự: Ngày 08/9/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Đinh Huy H 03 lõi dây đồng dài 4 mét, đường kính khoảng 1cm; 04 lõi dây đồng dài 2,2 mét, đường kính 1cm, tổng trọng lượng 7,4kg. Anh H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự. Ngoài ra, chị Nguyễn Thị P và chị Vũ Thị N không yêu cầu các bị can bồi thường số tiền bị thiệt hại.

Bản Cáo trạng số 208/CT-VKS ngày 22/9/2023 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Nguyễn Trọng N, Đoàn Văn Đ, Lê Văn L về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trọng N, Đoàn Văn Đ, Lê Văn L khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Trọng N, Đoàn Văn Đ, Lê Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt Nguyễn Trọng N từ 14 đến 18 tháng tù; Đoàn Văn Đ từ 10 đến 14tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 xử phạt Lê Văn L từ 08 đến 12 tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Từ ngày 09/7/2023 đến ngày 12/7/2023, tại địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Nguyễn Trọng N đã 04 lần trộm cắp dây cáp điện, tổng trị giá 8.488.600 đồng, Đoàn Văn Đ đã 02 lần trộm cắp dây cáp điện, tổng trị giá 6.897.000 đồng, Lê Văn L đã 01 lần trộm cắp dây cáp điện, tổng trị giá 3.241.000 đồng, số dây điện trên do anh Đinh Huy H phụ trách, quản lý.

Như vậy có đủ căn cứ xác định các bị cáo Nguyễn Trọng N, Đoàn Văn Đ, Lê Văn L đã có hành vi Trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật Đ vệ, gây mất trật tự trị an. Các bị cáo đã bàn bạc về việc trộm cắp dây cáp điện tại các bốt điện, công tơ điện trên địa bàn quận Hoàn Kiếm.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Trọng N và Đoàn Văn Đ phạm tội lần đầu, tuy nhiên trong vụ án này, bị cáo N đã có hành vi rủ rê lôi kéo các bị cáo khác phạm tội và được hưởng nhiều tiền N so với bị cáo Đ và L nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác, tuy nhiên xét hoàn cảnh bị cáo mồ côi bố mẹ từ nhỏ nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; riêng bị cáo Lê Văn L có 1 tiền sự ngoài thời hiệu và 1 tiền án đã được xóa án tích chứng tỏ bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo bị cáo nhưng bị cáo vẫn tiếp tục sa ngã nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Nguyễn Trọng N, Đoàn Văn Đ có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản phạm tội đã thu hồi trả lại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Hành vi của các bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Số tiền bị cáo N chiếm đoạt là 8.488.600 đồng, bị cáo Đ chiếm đoạt 6.897.000 đồng, bị cáo L chiếm đoạt 3.241.000 đồng. Hội đồng xét xử xét nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Biện pháp tư pháp:

- Về dân sự: Bị hại anh Đinh Huy H đã nhận lại giá trị tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên không xét.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị P, Chị Nguyễn Thị N, Chị Vũ Thị L không có yêu cầu bồi thường thiệt hại, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên không xét.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng N, Đoàn Văn Đ, Lê Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Trọng N 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/07/2023.

Xử phạt: Đoàn Văn Đ 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/07/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Lê Văn L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/07/2023.

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ