vanban.org

Bản án 217/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 217/2023/HS-ST
Ngày 13-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Thảo;

2/ Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07 và 13 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 189/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Trà T, sinh năm 1989; tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp C, thị trấn D, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trà T và bà Trà Th; có vợ tên Lý Thị H và 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 10/5/2020 bị Công an thành phố Tân Uyên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc tại Quyết định số 92/QĐ-XPHC, nộp phạt ngày 12/5/2022; bị bắt tạm giam từ ngày 13/4/2023 đến ngày 13/7/2023 được cho bảo lĩnh tại ngoại; có mặt.

2/ Lâm Ngọc H, sinh năm 1991; tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp Hòa Q, xã N, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Ngọc A và bà Sơn Thị Việt M; có vợ tên Lý Thị L và 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 02/4/2023 đến ngày 13/7/2023 được cho bảo lĩnh tại ngoại; có mặt.

3/ Trà Hoàng L, sinh năm 1995; tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp C, thị trấn D, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trà Sa Mây D và bà Kim Thị H; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/11/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 5 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 62/2017/HS-PT (chấp hành xong bản án ngày 05/02/2021); bị bắt tạm giam từ ngày 02/4/2023 đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Bùi Xuân T, sinh năm 1985; nơi cư trú: Khu phố B, phường Khánh B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Đình N, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 1, khu phố Khánh L, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt

Người làm chứng: Ông Bùi Văn Hiệp, ông Hồ Thanh Sơn. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trà T, Lâm Ngọc H và L là bạn với nhau và cùng cư trú tại nhà trọ Chín Bị thuộc khu phố Khánh Lộc, phường Khánh Bình, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trà T là người làm thuê, giúp việc cho ông Trần Văn N.

Khoảng 8 giờ 30 ngày 01/4/2023 trong lúc đi uống cà phê gần nhà, ông N nghe điện thoại của ông Đức (chồng của em vợ ông N) nói khoảng 30 phút sau xe đổ đất tại phường Thạnh Phước để ông N cho người xuống trông coi việc xe đổ đất. Qua điện thoại ông N nghe thấy có Tg ai đó cãi lộn, to Tg với Đức. Biết Đức cùng tổ cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ tại cây xăng An Lộc, lo lắng có ai đó chống đối gây sự với người thân của mình, lúc này ông N điện thoại cho Trà T nói Trà T lên bãi đất trống ở Thạnh Phước trông coi việc đổ đất đồng thời có nói “Anh ba Đức đang cãi lộn với thằng nào ngoài cây xăng An Lộc, mày chạy ra đó xem thế nào”. Nghe vậy T chuẩn bị 03 khúc tầm vông đặt lên chỗ để chân xe Vario (T khai mục đích mang đi cắm cọc cho xe tải đổ đất), T điều khiển xe mô tô ra khu vực cây xăng An Lộc. Khi chạy xe đến phía trước tiệm cầm đồ Kim N, T nhìn thấy H đang ở tiệm nên nói với H “Đi công chuyện với tao”, nghe vậy H có hỏi “Đi đâu” thì T trả lời “Anh hai N kêu đi ra chỗ anh ba Đức đang cãi lộn với thằng nào ngoài cây xăng An Lộc”, cùng lúc này, thấy Lợi đang đi bộ gần đó nên H rủ Lợi cùng đi. Sau đó, H điều khiển xe mô tô hiệu Lead, biển số 60F2-503.37 chở Lợi, T điều khiển xe mô tô hiệu Vario cùng nhau đi về hướng ngã ba cây xăng An Lộc thuộc phường Khánh Bình, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Khi đi đến gần ngã ba cây xăng An Lộc, H và Lợi thấy tổ tuần tra của Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Tân Uyên đang làm nhiệm vụ, cạnh đó có 03 người đàn ông đứng cạnh 01 xe ô tô hiệu KIA Carnival biển số 61K-167.89. Lúc này, H chở Lợi đến ngã tư có đèn tín hiệu giao thông rồi vòng xe ngược lại chạy đến phía trước Trạm y tế khu vực Khánh Bình rồi dừng lại tại đây. Thời điểm này, T đứng ở phía đối diện chỗ H và Lợi, đồng thời giơ tay chỉ về phía 03 người đàn ông đang đứng gần tổ Cảnh sát giao thông rồi ra hiệu chỉ về phía ông Bùi Văn Hiệp là người mặc áo xanh lá cây và rủ H và Lợi chặn đánh ông Hiệp vì T thấy ông Hiệp có vi lớn Tg, cãi nhau với Cảnh sát giao thông, H và Lợi đồng ý.

Sau khi tổ tuần tra Cảnh sát giao thông di chuyển đi làm nhiệm vụ nơi khác thì ông Hiệp và 02 người đàn ông đi cùng lên xe ô tô biển số 61K-167.89 do ông Bùi Xuân T điều khiển chạy về hướng phường Uyên Hưng. Thấy vậy, T ra hiệu cho H và Lợi điều khiển xe mô tô chạy theo chiếc xe ô tô của ông T, khi đến ngã tư đèn tín hiệu giao thông giao nhau giữa ĐT 746 với đường Khánh Bình 33 thì xe ô tô biển số 61K-167.89 giảm tốc độ, rẽ trái để quay đầu về hướng cây xăng Kim Hằng, thấy vật H và Lợi chạy vượt lên trước rồi dừng xe sát lề đường. H mở cốp xe ra lấy một cây ba khúc bằng kim loại dài khoảng 50cm rồi cùng với Lợi chạy ra làn xe ô tô sát dải phân cách cố định. Lợi đứng trước đầu xe ô tô biển số 61K-167.89 cản lại, H chỉ tay yêu cầu những người trên xe mở cửa xuống xe nói chuyện nhưng không ai mở cửa. H dùng cây ba khúc đập vào phần kính xe bên cửa ghế lái, tay nắm cửa bên trái, kính ở góc bên trái và đập vào mâm xe phía sau bên trái làm hư hỏng. Thời điểm này, T chạy xe tới thấy vậy cũng dùng 01 khúc cây tầm vông mang theo đập 01 cái vào phần viền cao su nẹp cửa kính bên trái. Lúc này Lợi bước ra khỏi đầu xe ô tô biển số 61K-167.89 và T lái xe bỏ chạy về hướng cây xăng Kim Hằng, T, H và Lợi điều khiển xe mô tô bỏ đi. Sau đó ông Bùi Xuân T đến Công an phường Khánh Bình trình báo sự việc.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Công an phường Khánh Bình T hành xác minh vụ việc, lập hồ sơ ban đầu và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên thụ lý theo thẩm quyền.

Ngày 02/4/2023, Lâm Ngọc H và L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi dùng hung khí làm hư hỏng xe ô tô biển số 61K-167.89 của ông Bùi Xuân T.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 56/KL-HĐĐGTS ngày 06/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tân Uyên xác định giá trị tài sản thiệt hại của xe ô tô hiệu KIA Carnival biển số 61K-167.89 là 11.984.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ tài liệu, đồ vật liên quan gồm:

- 01 Căn cước công dân tên Lâm Ngọc H;

- 01 xe mô tô hiệu Honda Lead, biển số 60F2-503.37;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 của Lâm Ngọc H;

- 01 xe ô tô hiệu KIA Carnival, biển số 61K-167.89;

- 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus của L;

- 01 USB ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án;

Xe ô tô hiệu KIA Carnival biển số 61K-167.89 là tài sản thuộc sở hữu của ông Bùi Xuân T. Ngày 11/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 177 trả lại xe cho ông Bùi Xuân T.

Xe mô tô biển số 60F2-503.37 có số khung RLHJF4514FY850932, số máy JF45E0909952, qua tra cứu xác định biển số không đúng với số khung, số máy xe. Qua tra cứu đối với biển số 60F2-503.37 do ông Nguyễn Văn Hiền đứng tên đăng ký chủ sở hữu, qua làm việc ông Hiền có mua và sử dụng xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 60F2-503.37, số khung RLHKC2602GY229195, số máy KC26E1095487, quá trình sử dụng đã bán xe này cho một người không rõ nhân thân, khi mua bán không có hợp đồng, không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu theo quy định. Qua tra cứu đối với số khung RLHJF4514FY850932, số máy JF45E0909952 do bà H Thị Thanh Tâm đứng tên, qua làm việc bà Tâm khai có đứng tên chủ sở hữu xe mô tô biển số 60B8-877.64 với số khung, số máy nêu trên, quá trình sử dụng đã bán lại xe mô tô này cho 01 người không rõ nhân thân, khi mua bán không làm hợp đồng và không sang tên chủ sở hữu theo quy định. Lâm Ngọc H khai xe mô tô này mua lại của một người (không rõ nhân thân) để sử dụng, khi mua bán không có hợp đồng và giấy tờ liên quan. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên đã T hành thông báo truy tìm chủ sở hữu trên Đài truyền thanh thành phố Tân Uyên nhưng đến nay không có kết quả.

Về phần trách nhiệm dân sự: Ông Bùi Xuân T không yêu cầu bồi thường.

Bản Cáo trạng số 209/CT-VKSTU ngày 24/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Xử phạt bị cáo Trà T từ 12 đến 15 tháng tù.

- Xử phạt bị cáo Lâm Ngọc H từ 10 đến 12 tháng tù.

- Xử phạt bị cáo L từ 8 đến 10 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Điện thoại di động tạm giữ của bị cáo Lâm Ngọc H, L và Căn cước công dân của bị cáo Lâm Ngọc H không liên quan hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho các bị cáo. Đối với xe mô tô hiệu Honda Lead màu trắng – nâu, số khung RLHJF4514FY850932, số máy JF45E0909952 là phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với biển xe số 60F2-503.37 không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong phần trình bày lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất hối hận, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa, ông Trần Đình N xác định chỉ yêu cầu bị cáo Trà T chạy ra xem có sự việc gì xảy ra với Đức, không yêu cầu T đánh người cũng không yêu cầu T làm hư hỏng tài sản của ai khác. Ông N xác định việc điện thoại yêu cầu T xuất phát từ sự lo lắng nhất thời của mình đối với người thân mà không vì mục đích nào khác. Tại phiên tòa các bị cáo xác định việc làm hư hỏng xe ô tô của bị hại là hành động bột phát do không kiềm chế được cảm xúc và do thiếu hiểu biết pháp luật. Các bị cáo xác định sự việc diễn ra trong thời gian ngắn, không gây tụ tập đông người, không gây cản trở giao thông. Do vậy, qua lời khai của ông N, lời khai của các bị cáo, đối chiếu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo không liên quan đến ông Trần Đình N cũng như tổ Cảnh sát giao thông Công an thành phố Tân Uyên làm nhiệm vụ ngày 01/4/2023.

[3] Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 01/4/2023, tại khu phố Khánh Lộc, phường Khánh Bình, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Trà T, Lâm Ngọc H và L có hành vi dùng thanh kim loại và khúc cây tầm vông đập vào nhiều vị trí trên xe ô tô hiệu KIA Carival, biển số 61K-167.89 của ông Bùi Xuân T gây hư hỏng với tổng thiệt hại là 11.984.000 đồng. Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng không kiềm chế được cảm xúc nhất thời đã cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo nhất thời phạm tội, không có sự phân công vai trò cho nhau. Trong đó bị cáo Lợi có hành vi chặn đầu xe của bị hại, bị cáo H dùng cây sắt đập vào xe ô tô của bị hại, bị cáo T rủ bị cáo H và bị cáo Lợi đuổi theo xe của bị hại, thấy H đập xe ô tô của bị hại nhưng bị cáo T không can ngăn mà còn dùng gậy tầm vông đập thêm một cái. Thiệt hại gây ra cho xe ô tô của bị hại chủ yếu do bị cáo H gây ra nên bị cáo H phải chịu trách nhiệm cao hơn.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo T, H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hoàn cảnh các bị cáo T, H khó khăn, phải nuôi con nhỏ được chính quyền địa phương xác nhận, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, có học vấn thấp, bị cáo T không biết chữ, các bị cáo nhận thức pháp luật hạn chế nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Lâm Ngọc H có nhân thân tốt, bị cáo Trà T từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “|Đánh bạc”, bi cáo L đã từng bị kết án 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Khi áp dụng hình phạt đối với các bị cáo, ngoài vai trò của các bị cáo cũng cần xem xét đến nhân thân của từng bị cáo để có quyết định phù hợp.

[6] Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Các bị cáo cho rằng khi thấy nhóm người có hành vi cãi vã với tổ Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ thì bất bình, tuy nhiên khi diễn biến sự việc xảy ra nhanh, các bị cáo nhận thức pháp luật hạn chế lại không kiềm chế cảm xúc dẫn tới có hành vi vi phạm pháp luật. Xét thấy việc Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ không liên quan đến các bị cáo, các bị cáo tự ý can thiệp, có hành vi làm hư hỏng xe của bị hại là vi phạm pháp luật, tuy nhiên động cơ, mục đích không rõ ràng, hành động chỉ là bột phát, thiệt hại xảy ra không lớn, bị hại không có yêu cầu các bị cáo bồi thường, các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Trà T, Lâm Ngọc H lần đầu phạm tội, đủ điều kiện áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, đồng thời cần xử phạt bổ sung các bị cáo khoản tiền nhất định sung ngân sách nhà nước để đảm bảo tác dụng răn đe đối với các bị cáo. Xét thấy hình phạt tù đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp, tuy nhiên về mức hình phạt do các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa đã thực sự ăn năn hối cải về hành vi của mình, Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo mức thấp hơn mức đề nghị để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Điện thoại di động tạm giữ của bị cáo Lâm Ngọc H, L và Căn cước công dân của bị cáo Lâm Ngọc H không liên quan hành vi phạm tội, cần trả lại cho các bị cáo. Đối với xe mô tô hiệu Honda Lead màu trắng – nâu, số khung RLHJF4514FY850932, số máy JF45E0909952 là phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với biển số xe 60F2-503.37 không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Trà T, Lâm Ngọc H, L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

1.1. Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 178; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trà T 03 (Ba) tháng tù bằng thời hạn tạm giam.

- Phạt bổ sung bị cáo Trà T số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

1.2. Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 178; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lâm Ngọc H 03 (Ba) tháng 12 (Mười hai) ngày tù bằng thời gian tạm giữ, tạm giam.

- Phạt bổ sung bị cáo Lâm Ngọc H số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo L 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/4/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo Lâm Ngọc H: Điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trằng và Căn cước công dân mang tên bị cáo;

- Trả lại cho bị cáo L: Điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen;

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước xe mô tô hiệu Honda Lead màu trắng – nâu, biển số 60F-503.37, số khung RLHJF4514FY850932, số máy JF45E0909952.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên)

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ