vanban.org

Bản án 217/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 26/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Tất L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Tất L 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2023 Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong có in 05 hình dấu của Công an phường Đông Hương, TP. Thanh Hoá, có các chữ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tất L (Gây TT) - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Tất L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 217/2023/HS-ST
Ngày: 26/5/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Loan

2. Bà Hoàng Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 236/2023/ HSST ngày 26 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với:

Bị cáo Lê Tất L, sinh ngày 1988; Giới tính: Nam

Nơi ĐKHKTT: SN …, NT, phường ĐH, thành phố TH, tỉnh TH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Tất V, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị T , sinh năm 1957; Vợ: Phạm Thị Minh T, sinh năm 1993; Con: Có 01 con sinh năm 2019; Tiền án: Không

Tiền sự: 01 Ngày 29/01/2022 bị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Nhân thân:

+ Ngày 01/4/2003 bị Công an phường Tân Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”;

+ Ngày 23/5/2017 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 14 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt ngày 05/11/2017;

+ Ngày 03/8/2020 bị Công an phường Đông Hương phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác”,

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/01/2023. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ, tạm giam Công an thành phố Thanh Hóa. (Có mặt)

Người bị hại: Anh Hạ Duy Tương, sinh năm 1986, (vắng mặt)

Trú tại: Thôn Minh Sơn, xã Minh Nghĩa, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 28/11/2022, Lê Tất L đi đến cửa hàng bán hoa quả số 29 Nguyễn Duy Hiệu, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa (cửa hàng của anh Hạ Duy Tương) thấy vợ mình là chị Phạm Thị Minh T (sinh năm 1993, trú tại 03/214 Nguyễn Tĩnh, phường Đông Hương, TP Thanh Hóa) và chị Đỗ Thị Phương (SN 1989, trú tại 212 khu phố 3, phường Trung Mỹ Tây, quận 12, TP Hồ Chí Minh) đang cãi nhau với chị Hoàng Thị Vân (SN 1990, trú tại thôn Hòa Hải, xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa) là người bán hoa quả tại cửa hàng anh Tương về việc chị Vân nợ tiền hàng của chị Phương. L đi vào cửa hàng ngồi quan sát. Trong lúc cãi nhau, chị Thơ có xích mích lời qua tiếng lại với anh Hạ Duy Tương (SN 1986, trú tại thôn Minh Sơn, xã Minh Nghĩa, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa). Lợi thấy anh Tương đứng lên tiến về phía chị Thơ, L liền lấy 01 con dao dọc giấy, vỏ bằng nhựa màu đỏ, lưỡi dao bằng sắt được giấu bên trong dài khoảng dài 15cm có sẵn trong cửa hàng xông lại, tay trái ôm ghì cổ anh Tương từ phía sau, tay phải dùng dao đâm nhiều nhát về phía tay phải của anh Tương. Quá trình xô xát, lưỡi dao còn đâm trúng vào mặt ngoài ngón tay trái của anh Tương gây nên đa chấn thương. Hậu quả anh Tương phải đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa Thanh Hà sau đó điều trị tiếp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, tổng thời gian điều trị là 10 ngày.

Tại “Biên bản xem xét dấu vết trên cơ thể” ngày 28/11/2022, Hạ Duy Tương có các vết thương như sau:

- 01 vết thương ở bả vai phải, kích thước (0,5x1) cm bờ mép sắc gọn,

- 01 vết thương mặt ngoài đầu trên cánh tay phải, kích thước (3x5)cm, bờ mép sắc gọn

- 01 vết thương mặt trước ngoài 1/3 giữa cánh tay phải, kích thước (0,5x2)cm, bờ mép sắc gọn

- 01 vết thương ở khuỷu tay phải, kích thước (1x3)cm, bờ mép sắc gọn

- 01 vết thương vị trí đốt 2,3 mặt ngoài ngón năm tay trái kích thước (1x4)cm, bờ mép sắc gọn

- 01 vết trầy xước da tại vùng mặt phải, kích thước (0,5x10)cm gò má phải,

Tại “Kết luận giám định pháp y về thương tích” số 1452/2022/TTPY của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa xác định: Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Hạ Duy Tương là 11%.

“Kết luận giám định pháp y về thương tích” (giám định pháp y về hung khí) của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Vết thương ở bả vai phải; Vết thương mặt ngoài đầu tiên trên cánh tay phải; Vết thương mặt trước ngoài 1/3 giữa cánh tay phải; Vết thương ở khuỷu tay phải; Vết thương ở vị trí đốt 2,3 mặt ngoài ngón năm tay trái; Vết trầy xước da tại vùng mặt phải (gò má phải) đều hình thành “ Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật có cạnh sắc hoặc vật có cạnh sắc nhọn”.

Quá trình điều tra, Lê Tất L đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng vụ án: Hiện thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa: 01 con dao (loại dao dọc giấy) màu đỏ, vỏ bằng nhựa, lưỡi dao bằng sắt, lưỡi dao được dấu bên trong, dài khoảng 15cm.

Về bồi thường dân sự: Ngày 25/5/2023 bị cáo đã nhờ gia đình thoả thuận và bồi thường cho anh Hạ Duy Tương xong. Anh Hạ Duy Tương không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lợi.

Cáo trạng số 183/CT-VKS ngày 25/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố Lê Tất L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự; Xử phạt: Lê Tất L từ 26 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam. Về bồi thường dân sự: Bị cáo và người bị hại đã thoả thuận và bồi thường xong; Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao vật chứng sau khi án có hiệu lực pháp luật; Về án phí buộc bị cáo chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 ngày 28/11/2022, tại số nhà 29 Nguyễn Duy Hiệu, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xuất phát từ việc xích mích giữa anh Tương với chị Thơ (vợ bị cáo L) bị cáo đã có hành vi dùng con dao rọc giấy đâm vào bả vai và tay phải anh Hạ Duy Tương gây thương tích, dẫn đến anh Tương bị tổn hại 11% sức khỏe.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo, của người bị hại, người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo Lê Tất L đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”.

Tổn hại sức khoẻ của anh Hạ Duy Tương là 11%, song bị cáo đã dùng dao để gây thương tích cho anh Tương. Con dao dọc giấy bị cáo dùng để gây án được xác định là hung khí nguy hiểm (Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 mục II phần I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao và tiểu mục 3.1 mục I Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao). Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ giữa vợ bị cáo và anh Tương, bị cáo đã dùng con dao dọc giấy đâm anh Tương, dẫn đến anh Tương tổn hại 11% sức khỏe. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và để phòng ngừa tội phạm chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, HĐXX xem xét để có mức hình phạt phù hợp đảm bảo tính răn đe và sự khoan hồng của pháp luật. Đồng thời cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa tội phạm chung.

Về vật chứng vụ án: Xét 01 con dao (loại dao dọc giấy) màu đỏ, vỏ bằng nhựa, lưỡi dao bằng sắt, dài khoảng 15cm vật chứng vụ án là vật không có giá trị do đó tịch thu tiêu hủy khi bản án có nhiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 106 Bộ luật TTHS.

Về bồi thường dân sự: Bị cáo và người bị hại đã thoả thuận và bồi thường xong; Người bị hại không yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường gì thêm nên HĐXX không xét.

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Tất L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Tất L 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2023

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong có in 05 hình dấu của Công an phường Đông Hương, TP. Thanh Hoá, có các chữ ký của Đỗ mạnh Cường, Lê Tất L, thiếu tá Lê Đình Chung (niêm phong bên trong là 01 con dao dọc giấy). Vật chứng hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa theo “Biên bản giao nhận vật chứng” số 177/2023/THA ngày 26/5/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa và Công an TP. Thanh Hóa

- Về bồi thường dân sự: Bị cáo và người bị hại đã thoả thuận bồi thường xong, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Lê Tất L phải chịu 200.000đ án phí HSST.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Tất L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại Hạ Duy Tương có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ