vanban.org

Bản án 217/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Vi Văn L và Nguyễn Văn T phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”.

1. Áp dụng điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 38 và 58 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Vi Văn L 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính t ngày b t, tạm giam 18/6/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn L, Nguyen Văn T - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vi Văn L và Nguyễn Văn T phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THNH PHỐ ĐL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LĐ
Bản án số: 217/2023/HS-ST
Ngày: 26 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Đức Công

+ Bà Huỳnh Thị Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố ĐL - tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Đăng Nghĩa - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 242/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2023/QĐXXST

- HS ngày 12/9/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vi Văn L, sinh năm: 1990, tại: Ng A; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Nam Sơn, xã Môn Sơn, Huyện C C, Tỉnh Ng A; nơi cư trú: Hẻm 65 Huyền Trân Công Chúa, Phường 4, THnh phố ĐL, Tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao Động tự do; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Vi Văn H, sinh năm: 1959 (đã chết) và bà: H Thị T, sinh năm: 1963; vợ: Vi Thị Ng, sinh năm: 1993 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2014; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án: Tại Bản án số 41/2018/HS-ST ngày 09/10/2018, Tòa án nhân dân huyện C C, tỉnh Ng A, xử phạt Vi Văn L 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đã chấp Hnh xong bản án ngày 04/12/2019. Hiện nay chưa được xóa án tích; tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định số 243/QĐ-XPHC ngày 16/6/2023, Công an tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ xử phạt Vi Văn L số tiền 4.000.000 đồng về Hnh vi mang theo trong người các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện có khả năng sát thương nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác; nộp phạt vào ngày 30/6/2023.

Bị cáo bị b t truy nã t ngày 18/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại NH tạm gi Công an thành phố ĐL.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm: 2001, tại: N B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Xóm 1, xã Kim Trung, huyện K S, tỉnh N B; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao Động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1974 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1983; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị b t truy nã t ngày 21/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại NH tạm gi Công an thành phố ĐL.

- Người làm chứng: Anh Hồ Xuân L, sinh năm: 1980, địa chỉ: Số 15/12C H B Tr, Phường 6, THnh phố ĐL, tỉnh LĐ.

(Các bị cáo có mặt, người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vi Đình M và Viêng Văn M có mâu thu n với nhau nên khoảng 19 giờ 30 ngày 1/8/2021, M gọi điện thoại cho anh ruột là Vi Đình Hợp và anh họ là Viềng Văn Th để nhờ nói chuyện với M thì H và Th đồng ý. Sau đó, Th sử dụng xe mô tô Exciter màu xanh biển số 49B1-713.6 chở Hợp về phòng trọ của M ở số 79 Kim Thạch, Phường 7, thành phố Đà Lạt rồi cùng M đi đến nhà M ở 84 Vạn THnh, Phường 5, thành phố Đà Lạt. Tại đây, cả nhóm thấy M đang ngồi nhậu và đốt lửa cùng Lín Văn Hiền và khoảng 5-6 người bạn của Hiền (không rõ họ tên, địa chỉ), ngoài ra còn có bà Phan Thị Thiên (là m M) và Vi Thị Diệp Đang (em gái M) đang ngủ trong nhà, lúc này nhóm của M ném cây về phía nhóm M nên nhóm M b chạy ra ngoài đường. Do bực tức nên M, Hợp và Th quay lại nhà M rồi M nhặt một cây gỗ nh (dạng cây cà phê) dài khoảng 80 cm, Hợp nhặt một cục đá hình tròn kích thước 7x7 cm rồi cả hai đập bể kính cửa s và kính cửa ra vào nhà của M rồi cả nhóm b chạy.

Do bực tức việc nhóm M tới nhà đập phá tài sản nên M rủ Hiền và bạn của Hiền đi tìm nhóm M để đánh trả thù thì cả nhóm đồng ý, lúc này Kha Văn Th ng (bạn của bà Thiên) gọi điện cho M h i sự việc thì M kể lại chuyện nhóm M đập phá nhà cho Th nghe. Một lúc sau, Th đi xe mô tô tới nhà M thì M nói Th ng rủ thêm người đi tìm nhóm của M đánh trả thù thì Th đồng ý rồi gọi điện thoại rủ L Văn Tình và nói Tình rủ thêm người thì Tình đồng ý.Tình gọi điện thoại rủ Vi Văn L, rồi nhờ L gọi thêm người thì L gọi thêm Nguyễn Văn Tiến, Lại Văn S và 3 đối tượng tên Sơn, Khánh, Thêm (chưa r lai lịch) đi đánh nhau giải quyết mâu thu n giúp M. Sau đó, Tình đi xe mô tô biển số 49T1-5163 tới nhà M, một lúc sau L, Tiến, S, Sơn, Khánh, Thêm đi xe taxi tới. Tại đây, M rủ tất cả khoảng 15 người đi tìm nhóm M đánh trả thù thì tất cả đồng ý, trước khi đi có 03 người bạn của Hiền cầm theo 03 cây gỗ, L cầm theo một con dao rựa, S cầm theo một con dao, khi đi M đi chung xe mô tô với một người bạn của Hiền, Th ng đi chung xe máy với một người trong nhóm (không quen biết), Tình đi một mình bằng xe mô tô biển số 49T1-5163, nh ng người còn lại đi xe mô tô (không r biển số) và xe taxi Lado biển số 49E-002.73 do tài xế là Hồ Xuân L, sinh năm: 1980, HKTT: 15/12C Hai Bà Trưng, Phường 6, TP Đà Lạt điều khiển cùng đi tới nhà M nhưng không thấy M nên M gọi điện thoại cho M h n ra ngã 3 Kim Thạch, Phường 7, thành phố Đà Lạt đánh nhau giải quyết mâu thu n thì M đồng ý. Sau khi h n nhóm của M thì nhóm của M đi tới ngã 3 Kim Thạch chuẩn bị đá, gậy và dao rồi đứng đợi nhóm M đến đánh nhau.

Sau khi đồng ý tới ngã ba Kim Thạch gặp M đánh nhau thì M rủ Hợp và Th đi cùng thì cả hai đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Th sử dụng xe mô tô Exciter màu xanh biển số 49B1-713.6 chở M và Hợp đến gần ngã 3 Kim Thạch thì d ng lại rồi M nhặt ở ven đường một cây gỗ (dạng cây cà phê) dài khoảng 80 cm và một cây tre dài khoảng 80cm, còn Hợp cầm theo một cây gậy ba tr c bằng kim loại, tròn, khi dũ ra dài khoảng 60cm, để trong áo khoác. Khi đến nơi thấy nhóm M có khoảng 15 người nên M đưa cho Th cây gỗ, hợp cầm cây gậy ba tr c còn M cầm cây tre để đánh nhau thì bị nhóm người bên M ném đá nên M, Hợp và Th để lại xe mô tô BKS 49B1-713.6 b chạy. Nhóm của M rượt đu i nhóm của M đến gi a dốc Tùng Lâm thì quay lại, thấy chiếc xe mô tô của Th để lại nên M nhặt một cây tre dài khoảng 60 cm ở ven đường đập một cái bể phần yếm xe bên trái khiến cây tre bị gãy, M tiếp tục nhặt một cục đá kích thước 15x15cm ném bể đ n, ốp nhựa phía đầu xe rồi tiếp tục nhặt cục đá kích thước 15x15cm ném bể ốp nhựa sườn xe bên trái. Sau đó có khoảng 4-5 người trong nhóm M quay lại dùng dao và gậy đập phá chiếc xe này hư h ng rồi cả nhóm b đi (BL: 66-199; 204-229; 241-255).

Vật chứng thu giữ: 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T; 01 điện thoại Samsung màu đen loại cảm ứng màn hình có nhiều vết rạn nứt đã qua sử dụng;

Đối với các vật chứng gồm: 01 dao mũi nhọn, cán bằng nhựa màu tr ng, dài 60cm; 01 dao tự chế mũi tù, cán bằng nhựa, dài 60cm; 01 dao lư i bằng s t cán màu đen, dài 30cm; 01 gậy bóng chày bằng kim loại màu xám đen dài 68cm; 01 (một) viên gạch; 01 CMND số 187992316 mang tên Viềng Văn Th; 01 CMND số 18777032 mang tên Vi Đình M; 01 điện thoại di động Oppo 5S màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo 5 màu xám đen g n sim số 086640483 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Samsung alaxy 21S màu xanh đen đã qua sử dụng; 01 USB màu xanh xám bên trong có chứa 03 đoạn video ghi lại sự việc gây rối, đập phá tài sản tại ngã ba Kim Thạch, Phường 7, TP. Đà Lạt; 01 đĩa CD màu tr ng có lưu tr Phụ lục số 1414/ Đ-PC09 mô tả diễn biến vụ việc gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày 01/8/2021 tại ngã ba Kim Thạch, Phường 7, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Tại bản án số 151/2022/HS-ST ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân tHnh phố ĐL đã quyết định xử lý đối với các vật chứng thu gi nêu trên. Hiện nay bản án đã có hiệu lực pháp luật (BL: 66-71).

Tại bản cáo trạng số 232/CT-VKS ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố ĐL truy tố các bị cáo Vi Văn L và Nguyễn Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Vi Văn L và Nguyễn Văn T khai nhận, khoảng 23 giờ 00 phút ngày 01/8/2023, tại ngã 3 Kim Thạch, Phường 7, THnh phố ĐL, Tỉnh LĐ, L và T cùng Vi Đình M, Vi Đình H, Viềng Văn Th, Viêng Văn M, Kha Văn Th ng, L Văn T, Lại Văn Sỹ tụ tập đông người, la hét, sử dụng hung khí rượt đu i đánh nhau tại khu vực công cộng gây mất trật tự, an toàn như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác; các bị cáo không th c m c, khiếu nại về cáo trạng truy tố và xin được giảm nh hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát v n gi nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Vi Văn L và Nguyễn Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” và đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và các Điều 38; 58 của Bộ hình sự, xử phạt Vi Văn L t 36 (ba mươi sáu) đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T t 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả cho bị cáo T 01 căn cước công dân. Tịch thu bán sung Ngân sách NH nước 01 điện thoại Samsung màu đen của bị cáo L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan T Hnh tố tụng, người T Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T Hnh tố tụng, người T Hnh tố tụng đã thực hiện đều H pháp.

Về Hnh vi phạm tội của các bị cáo Vi Văn L và Nguyễn Văn T: Xuất phát t mâu thu n cá nhân gi a Vi Đình M và Viềng Văn Mây nên vào tối ngày 01/8/2021, Mây gọi điện cho M h n ra ngã 3 Kim Thạch, Phường 7, THnh phố ĐL đánh nhau giải quyết mâu thu n thì M cũng đồng. Mây gọi Kha Văn Th ng rủ thêm người đi đánh nhau với nhóm của M; Th ng gọi điện thoại rủ L Văn Tình; Tình gọi điện thoại rủ Vi Văn L, rồi nhờ L gọi thêm người thì L gọi thêm Nguyễn Văn Tiến, Lại Văn S và 3 đối tượng tên Sơn, Khánh, Thêm (chưa r lai lịch) đi đánh nhau giải quyết mâu thu n với nhóm của M. Còn nhóm của M sau khi h n đi đánh nhau với M thì rủ thêm Vi Đình H và Viềng Văn Th cùng chuẩn bị hung khí đi đánh nhau với nhóm của M. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, tại khu vực ngã 3 Kim Thạch, Phường 7, THnh phố ĐL, nhóm của Vi Đình M và Viêng Văn Mây sử dụng dao, gậy đu i đánh nhau gây ồn ào, náo loạn, gây mất trật tự trị an tại địa bàn khu dân cư. Tại báo cáo số 164/BC-UBND ngày 02/8/2021 Ủy ban nhân dân Phường 7, THnh phố ĐL xác định vào khoảng 23 giờ 00 ngày 01/8/2021, tại khu vực ngã 3 Kim Thạch, Phường 7, THnh phố ĐL xảy ra sự việc gây gỗ, đánh nhau gi a hai nhóm thanh niên…làm cho người dân hoang mang lo sợ, gây mất trật tự an toàn tại địa phương.

Sau khi thực hiện Hnh vi phạm tội Viềng Văn M, Vi Đình M, Vi Đình H, Viềng Văn Th, Kha Văn Th ng và L Văn T đã được Tòa án nhân dân tHnh phố ĐL xét xử tại Bản án số 151/2022/HS-ST ngày 23/8/2022. Đến ngày 21/4/2023 và 18/6/2023 thì Vi Văn L và Nguyễn Văn T mới bị b t theo lệnh truy nã.

Xét thấy các bị cáo Vi Văn L và Nguyễn Văn T đều đã đủ tu i trưởng tHnh và có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo biết r Hnh vi tụ tập; rượt đu i đánh nhau, gây náo loạn, ảnh hưởng đến trật tự chung, cản trở hoạt động bình thường ở nơi công cộng là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo v n thực hiện nhằm th a mãn cho mâu thu n riêng của bản thân. Hnh vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự chung, gây hoan mang, lo l ng, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở nơi công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa; lời khai của các bị cáo và người làm chứng trong quá trình điều tra, phù H với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án, có đủ căn cứ kết luận Hnh vi của các bị cáo Vi Văn L và Nguyễn Văn T phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 232/CT-VKS ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố ĐL, tỉnh LĐ truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, quá trình thực hiện Hnh vi phạm tội các bị cáo không bàn bạc, phân công cụ thể. Xét vai trò, Hnh vi của t ng bị cáo thì thấy, Vi Văn L là người đang có tiền án; rủ rê, lôi kéo Nguyễn Văn T; chuẩn bị hung khí là 01 con dao bằng s t để đi giải quyết mâu thu n. Còn Nguyễn Văn T, mặc dù không quan biết và mâu thu n gì với ai, nhưng khi nghe Vi Văn L rủ đi tìm người để giải quyết mâu thu n thì cũng nhiệt T tham gia; tại hiện trường đã nhặt 01 gậy s t và 01 cây rựa để rượt đu i đánh nhau, nên bị cáo L pH chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo T là phù H.

Về T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Do các bị cáo tHnh khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về Hnh vi phạm tội của mình nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là T tiết giảm nh trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Riêng bị cáo T có ông nội được tặng thưởng vì đã có tHnh tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên được áp dụng thêm T tiết giảm nh theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là phù H.

Bị cáo Vi Văn L phạm tội thuộc trường H tái phạm nên áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

Đối với bị can Lại Văn Sỹ sau khi bị khởi tố đã b trốn, hiện nay Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và tạm đình chỉ điều tra bị can và ra Quyết định truy nã đối với S, khi nào b t được s xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên Lín Văn Hiền và các đối tượng được Hiền, L, S rủ tới để đánh nhau với nhóm của M. Hiện nay Cơ quan điều tra chưa làm việc được với các đối tượng này nên tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ s xử lý theo quy định của pháp luật.

Riêng Hnh vi phạm tội của Viềng Văn M, Vi Đình M, Vi Đình H, Viềng Văn Th, Kha Văn Th ng và L Văn T đã được Tòa án nhân dân tHnh phố ĐL xét xử tại Bản án số 151/2022/HS-ST ngày 23/8/2022 nên không đề cập, xem xét trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu gi 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và thi Hnh án nên trả lại cho bị cáo T là phù H. Đối với 01 điện thoại Samsung màu đen, là công cụ, phương tiện bị cáo L dùng để liên lạc, trao đ i khi thực hiện Hnh vi phạm tội nên tịch thu bán sung Ngân sách NH nước là phù H.

Về án phí: Buộc các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Vi Văn L và Nguyễn Văn T phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”.

1.1. Áp dụng điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 38 và 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Vi Văn L 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính t ngày b t, tạm giam 18/6/2023.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 và các Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính t ngày b t, tạm giam 21/4/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

2.1. Trả cho bị cáo T 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T.

2.2. Tịch thu bán sung Ngân sách NH nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen đã qua sử dụng của bị cáo L.

(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 12/9/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tHnh phố ĐL và Chi cục Thi Hnh án dân sự tHnh phố ĐL).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc Vi Văn L và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo pH chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày tuyên án, các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ