vanban.org

Bản án 217/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 07/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn thị Kim N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 217/2022/HS-ST
Ngày: 04-8-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châu Thị Hoài Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Chiến

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2022/HSST ngày 11 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 2000 tại Khánh Hòa; HKTT: Số 5/5, khu phố 3, phường AB, thành phố H, tỉnh Đ; tạm trú: Tổ 1, khu phố 1, phường LT, thành phố R, tỉnh R; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970 và bà Huỳnh Thị Mỹ T, sinh năm 1972; bị cáo có 01 người con sinh ngày 15/07/2021 (chưa đăng ký khai sinh).

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Không có.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm khỏi nơi cư trú từ ngày 10/6/2021 đến nay. Bị cáo có đơn xin vắng mặt

- Bị hại:

1. Phạm Ngọc D, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số 43/2A đường 471, ấp An Hòa, xã Tr, huyện C, Thành phố H. Có đơn xin vắng mặt

2. Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1960; nơi cư trú: Ấp Cà Tong, xã TA, huyện T, tỉnh B. Có đơn xin vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Trần Thanh N, sinh ngày 06/5/2005; nơi cư trú: Số 55/36, khu phố 2, phường BA, thành phố P, tỉnh N.

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 30/4/2021, Nguyễn Thị Kim N cùng Nguyễn Trần Thanh N đến Siêu thị Aeon Bình Dương tại khu phố Bình Giao, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương để tham quan mua sắm. Tại đây, Kim N và Thanh N cùng rủ nhau trộm cắp tài sản của người khác để bán kiếm tiền chia nhau tiêu xài cá nhân.

Thực hiện ý định trên, Kim N và Thanh N đi đến khu ăn uống tại tầng trệt của siêu thị để lấy trộm tài sản sơ hở của khách tham quan siêu thị. Khi đến khu vực quầy bán Sushi, Kim N quan sát thấy bà Phạm Ngọc D đang đeo 01 túi xách trên vai trái nên ra hiệu cho Thanh N chuẩn bị chiếm đoạt tài sản của bà D. Khi nhận được tín hiệu của Thanh N thì Kim N đi đến áp sát vào phía bên phải của bà D để cảnh giới và đánh lạc hướng, còn Thanh N đi đến áp sát vào bên trái của bà D rồi dùng tay mở khóa kéo của túi xách lấy trộm được 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S20+, màu xanh, rồi cả hai mang chiếc điện thoại vừa lấy trộm được cất giấu vào trong bụi cây tại bãi giữ xe mô tô ở cổng số 03.

Sau đó, cả hai quay trở lại quầy bán Sushi để tiếp tục tìm cơ hội lấy trộm tài sản sơ hở của khách tham quan siêu thị. Lúc này, Kim N quan sát thấy bà Nguyễn Thị N H đang bế con nhỏ và đeo 01 túi xách bên vai trái, Kim N ra hiệu cho Thanh N chuẩn bị chiếm đoạt tài sản của bà H, cũng bằng cách thức tiếp cận như ban đầu, Thanh N áp sát phía sau lưng của bà H rồi dùng tay kéo khóa của túi xách móc trộm 01 ví bằng vải màu đỏ, rồi cả hai rời khỏi quầy bán Sushi, đi vào nhà vệ sinh tại tầng trệt.

Tại đây, Thanh N lấy tiền trong ví ra đưa cho Kim N đếm được số tiền 740.000 đồng và 16 đô la mỹ (08 tờ 02 đô la). Sau khi đếm tiền xong, Kim N bỏ chiếc ví trên vào thùng rác. Khi cả hai đi ra khỏi nhà vệ sinh thì bị bảo vệ của Siêu thị thông qua camera an ninh phát hiện giữ lại và trình báo công an phường Thuận Giao để giải quyết. Tại cơ quan công an, Kim N và Thanh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tang vật thu giữ: tiền Việt Nam đồng: 740.000 đồng (bảy trăm bốn mươi ngàn đồng); tiền ngoại tệ: 16 đô la Mỹ (08 tờ mệnh giá 02 đô la); 01 (một) bóp nữ bằng vải màu đỏ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 15/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An xác định tài sản bị chiếm đoạt gồm: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S20+ màu xanh có trị giá 9.000.000 đồng; 16 đô la Mỹ (08 tờ mệnh giá 02 đô la) có trị giá 368.000 đồng. Riêng 01 (một) bóp nữ bằng vải màu đỏ do không rõ nhãn hiệu và bị hại không cung cấp được hóa đơn chứng từ của tài sản nên không đủ cơ sở để định giá. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 10.108.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 145/CT-VKS-TA ngày 08/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội D vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim N từ 08 (tám) tháng tù đến 10 (mười) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với số tiền 740.000 đồng, tiền ngoại tệ 16 đô la Mỹ (08 tờ mệnh giá 02 đô la) và 01 (một) bóp nữ bằng vải màu đỏ: Quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của bà Nguyễn Thị Ngọc H nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H là có căn cứ.

+ Đối với 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S20+ màu xanh: Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận sau khi chiếm đoạt được điện thoại đã cất giấu dưới bụi cây trong khuôn viên của siêu thị, tuy nhiên khi Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm vật chứng thì không thu hồi được chiếc điện thoại nêu trên.

Về tránh nhiệm dân sự:

+ Bị hại Nguyễn Thị Ngọc H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

+ Bị cáo đã bồi thường cho bị hại Phạm Ngọc D số tiền 4.000.000 đồng và bà D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An xác định Nguyễn Trần Thanh N có dấu hiệu phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, căn cứ giấy chứng sinh xác định Thanh N sinh vào lúc 02 giờ 15 phút ngày 06/05/2005 tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 30/4/2021 thì Thanh N có độ tuổi là 15 tuổi 11 tháng 4 ngày chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Trưởng Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt hành chính theo điểm a, khoản 1, Điều 15 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ bằng hình thức phạt: “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản” đối với Thanh N theo quy định.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình chăm sóc con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và trong nội dung đơn yêu cầu xét xử vắng mặt bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Trong các Bản tường trình (BL 16); Biên bản hỏi cung bị can (BL 76 – 79); Biên bản ghi lời khai (BL 80 – 87); ... Bị cáo Nguyễn Thị Kim N đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng trong vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ ngày 30/04/2021 tại Siêu thị Aeon Bình Dương thuộc khu phố Bình Giao, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Thị Kim N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S20+ màu xanh trị giá 9.000.000 đồng của bà Phạm Ngọc D và 01 (một) bóp nữ bằng vải màu đỏ của bà Nguyễn Thị Ngọc H bên trong có chứa số tiền 740.000 đồng; 16 đô la Mỹ gồm 08 tờ mệnh giá 02 đô la, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 10.108.000 đồng.

Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, làm mất an ninh trật tự tại nơi bị cáo gây án. Bị cáo có khả năng lao động lẽ ra bị cáo phải tìm cho mình một nghề nghiệp ổn định, tích cực lao động để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân, chăm lo cho gia đình nhưng vì tham lam, lười lao động mà bị cáo đã dấn thân vào con đường phạm tội.

Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình và có ý thức cải tạo, sửa đổi thành công dân tốt.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đang mang thai; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, n và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là số tiền 740.000 đồng, tiền ngoại tệ 16 đô la Mỹ (08 tờ mệnh giá 02 đô la) và 01 (một) bóp nữ bằng vải màu đỏ: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của bà Nguyễn Thị Ngọc H nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H là phù hợp.

Đối với vật chứng là 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S20+ màu xanh: Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận sau khi chiếm đoạt đã cất giấu dưới bụi cây trong khuôn viên của Siêu thị nhưng Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc điện thoại nêu trên nên không xem xét xử lý.

Đối với đối tượng Nguyễn Trần Thanh N: Quá trình điều tra xác định Nguyễn Trần Thanh N có dấu hiệu phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự cụ thể là đã cùng bị cáo thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Tuy nhiên, căn cứ giấy chứng sinh xác định đối tượng N sinh vào lúc 02 giờ 15 phút ngày 06/05/2005, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 30/4/2021 thì đối tượng N có độ tuổi 15 tuổi 11 tháng 4 ngày là chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Trưởng Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt hành chính theo điểm a, khoản 1, Điều 15 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ bằng hình thức phạt: “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản” đối với đối tượng Nguyễn Trần Thanh N theo quy định là phù hợp.

Về tránh nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị Ngọc H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Bị cáo đã bồi thường cho bị hại Phạm Ngọc D số tiền 4.000.000 đồng và bà D tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173; điểm i, n và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim N 08 (tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Kim N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án, hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ