vanban.org

Bản án 217/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Văn Thị Thanh Ch.

Về hôn nhân: Không công nhận chị Văn Thị Thanh Ch và anh Trần Phú T là vợ chồng. Về con chung: Giao cho chị Văn Thị Thanh Ch trực tiếp nuôi dưỡng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Văn Thị Thanh Ch Ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Trần Phú T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Văn Thị Thanh Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 217/2022/HNGĐ-ST
Ngày 17- 6 - 2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh

2. Ông Huỳnh Văn Sức

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 137/2022/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/5/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Văn Thị Thanh Ch, sinh năm 1996

Địa chỉ: số nhà 299, ấp Hòa H 1, xã Hòa L, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: anh Trần Phú T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: số nhà 385, ấp Hòa H 1, xã Hòa L, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(Chị Ch yêu cầu vắng mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Phú T là vợ chồng vào năm 2013, có tìm hiểu nhau trước rồi mới tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, từ khi thành vợ chồng đến khi ly thân không đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn là anh T thường xuyên nhậu nhẹt, chị có khuyên nhưng anh không nghe, mỗi khi nhậu về thì vợ chồng hay cự cãi. Đã ly thân từ năm 2015 đến nay, không còn liên lạc qua lại. Do không còn tình cảm và không đăng ký kết hôn nên yêu cầu được ly hôn với anh T. Quá trình chung sống có một con chung tên Trần Ngọc Như Y, sinh ngày 07/02/2013, yêu cầu tiếp tục nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Bị đơn anh Trần Phú T vắng mặt từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử nên không có lời trình bày.

Tòa án tiến hành xác minh được Ủy ban nhân dân xã Hòa Lạc, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang Thông báo số 14/TB-UBND ngày 15/4/2022 xác định: Qua tra cứu xác minh thông tin sổ bộ hộ tịch tàng thư lưu trữ, chị Văn Thị Thanh Ch và anh Trần Phú T chưa đăng ký kết hôn.

Bà Trương Thị L (mẹ ruột của anh Trần Phú T) cho biết: Anh T có đăng ký hộ khẩu chung với bà, hiện tại anh T đi làm xa, việc ly hôn giữa vợ chồng T do họ tự quyết định, quá trình chung sống có một đứa con chung tên Trần Ngọc Như Y, sinh ngày 07/02/2013, do Chúc đang nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay.

Tòa án thu thập được ý kiến của cháu Trần Ngọc Như Y thể hiện có nguyện vọng được sống với chị Văn Thị Thanh Ch.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Qua đó, cho thấy bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quan điểm giải quyết vụ án: chị Văn Thị Thanh Ch và anh Trần Phú T chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2013, không đăng ký kết hôn nên căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình không công nhận chị Ch, anh T là vợ chồng. Về con chung: từ khi ly thân cho đến nay cháu Trần Ngọc Như Y, sinh ngày 07/02/2013 có nguyện vọng sống chung chị Chúc. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của cháu, cần giao cháu cho chị Chúc tiếp tục nuôi dưỡng, chị Ch không yêu cầu cấp dưỡng nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung; nợ chung: Không có không yêu cầu giải quyết. Chị Ch phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn có nơi cư trú tại xã Hòa Lạc, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án dân sự về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng cũng như triệu tập đến lần thứ hai để nghe xét xử, nhưng vẫn vắng mặt, nguyên đơn có đơn yêu cầu vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về yêu cầu ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy, chị Ch và anh T tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng và đủ điều kiện kết hôn thì phải đăng ký theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về hộ tịch, nhưng anh, chị không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội và khoản 4 Điều 3 thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình không công nhận chị Văn Thị Thanh Ch và anh Trần Phú T là vợ chồng.

Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con:

Quá trình chung sống, có một con chung hiện đang sống với chị Ch từ khi ly thân đến nay. Chị Ch yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Cháu Trần Ngọc Như Y hiện đang sống với chị Ch, được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển ổn định và có nguyện vọng được sống với chị Ch. Để đảm bảo môi trường phát triển của con được ổn định, thuận lợi trong việc học tập, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, cần tiếp tục giao cháu Trần Ngọc Như Y cho chị Văn Thị Thanh Ch chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ch không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, anh T không phải cấp dưỡng cho con. Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Chị Ch xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Ghi nhận chị Ch xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Văn Thị Thanh Ch.

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Văn Thị Thanh Ch và anh Trần Phú T là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cho chị Văn Thị Thanh Ch trực tiếp nuôi dưỡng

cháu Trần Ngọc Như Y, sinh ngày 07/02/2013 đến thành niên và tự lập được, anh Trần Phú Tín không phải cấp dưỡng cho con.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Ch cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với chị Chúc, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Ghi nhận chị Văn Thị Thanh Ch xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Văn Thị Thanh Ch phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu tiền số 0004454 ngày 08/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh Trần Phú T không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ